Ly kỳ Huyệt rồng ở Hoành Sơn nơi phát tích nhà Tây Sơn

(PLO) - Tương truyền, trên núi Hoành Sơn có long huyệt nơi ba anh em nhà Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa. Đây là còn nơi chôn cất của song thân Tây Sơn tam kiệt và vua Thái Đức Nguyễn Nhạc. Song không ai biết chính xác những ngôi mộ ở vị trí nào trên núi.

Núi Hoành Sơn không cao nhưng dài và rộng

Núi Hoành Sơn không cao nhưng dài và rộng

Huyền thoại về long huyệt

Núi Hoành Sơn nằm ở ranh giới xã Bình Tường và xã Tây Giang (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định), núi không cao nhưng dài và rộng. Núi lấy hòn Trưng Sơn (ở thôn Phú Lạc, thị trấn Phú Phong) làm bút, hòn Dũng (ở thôn Hội Khánh, xã Bình Tường) làm nghiên.

Hai hòn này đối nhau qua sông Côn. Trước mặt núi Hoành Sơn có hòn Một làm chuông, hòn Giải làm trống, hòn Kiếm Sơn làm kiếm; có hai phụ lưu sông Côn từ phía tây và phía bắc chạy ra họp nhau tại đầu cầu Phú Phong làm thành thế long bàn ôm lấy cuộc đất Hoành Sơn. 

Theo võ sư Trần Quốc Phi Long - người được mệnh danh là “rồng đen” của võ thuật Việt Nam, nhà ở lưng chừng đèo An Khê (thuộc xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn), trước đây ông thường đi tìm cây cảnh nên dẫn theo một đám học trò, cơm đùm cơm nắm, lang thang hết các ngọn núi ở đây. Bởi vậy, không con suối, ngách núi nào ở đây ông không biết. 

“Ngày trước, tôi cũng nghe chuyện Nguyễn Nhạc chôn hài cốt song thân nơi núi Hoành Sơn, nhưng lên đó thì chỉ thấy cây và đá núi, không có chút dấu tích nào. Tôi thấy trên núi có một hòn đá dựng đứng và một khoảnh đất nhỏ bằng phẳng, kế bên có một vũng nhỏ, người dân bảo xưa là một cái giếng”, võ sư Phi Long cho biết. 

Có lẽ bởi vậy mà từ xưa đến nay, người dân vẫn truyền tụng rằng, vào nửa cuối thế kỷ XVII có một ông thầy địa người Tàu, thường ngày cứ đi đi lại lại trong vùng Tây Sơn. Nguyễn Nhạc theo rình xem. Một hôm, Nguyễn Nhạc thấy thầy địa đến núi Hoành Sơn, dùng hai cây trúc cành lá xanh tốt và giống như nhau đem cắm nơi triền phía đông, một cây ngoài bắc, một cây trong nam rồi bỏ đi. 

Biết rằng vùng Tây Sơn là một đại địa và thầy địa người Tàu tìm cách để thử huyệt khí, Nguyễn Nhạc bèn lưu ý đến nơi trồng hai cây trúc và ngày ngày đến thăm chừng. Cách mấy hôm sau, cây trúc phía bắc sống và tươi tốt như lúc mới trồng, còn cây trúc phía nam thì chết khô.

Ðiều đó cho biết rằng long huyệt nằm ở phía bắc. Nguyễn Nhạc hết sức mừng, bèn nhổ cây khô đem cắm vào chỗ cây sống và đem cây sống đến cắm vào chỗ cây khô.

Tính đúng 100 ngày từ khi trồng trúc, thầy địa người Tàu đến xem thì thấy hai cây trúc đều chết nên ông này nhún vai trề môi, bỏ đi không thèm trở lại nữa. Bởi ông cho rằng đó chỉ là “giả cuộc” mà thôi. Sau khi thầy địa đi, Nguyễn Nhạc bèn về bốc mộ ông thân sinh đem táng nơi chân trúc phía bắc. 

Trong sách “Non nước Bình Định”, nhà thơ Quách Tấn kể một giai thoại khác, thầy địa lí người Tàu vốn quen thân với Nguyễn Nhạc. Lúc đến vùng Tây Sơn “tìm long điểm huyệt”, thường tá túc nơi nhà họ Nguyễn và chính Nguyễn Nhạc là người dẫn lộ cho thầy Tàu. 

Ði khắp cả vùng Tây Sơn, thầy địa chỉ chú ý đến núi Hoành Sơn. Thầy đi qua đi lại không biết mấy lần, hết đặt địa bàn ở chỗ này thì đem đặt ở chỗ khác, ngắm nghía, tính toán, có vẻ đắc ý. Ðoạn thầy bỏ đi đâu mất biệt. Hơn một năm sau, thầy trở lại và cũng ghé nghỉ ngơi ở nhà Nguyễn Nhạc. Lần này ngoài chiếc địa bàn, thầy còn mang theo một chiếc trắp nhỏ, bọc trong một chiếc khăn điều.

Ðoán biết rằng thầy Tàu đã tìm được “huyệt mả đại phát” nơi Hoành sơn nên về Tàu hốt cốt tiền nhân đem qua chôn, Nguyễn Nhạc bèn tìm cách đánh đổi. Nhưng làm sao đánh đổi được, vì thầy Tàu không khi nào rời chiếc trắp ra. Nguyễn Nhạc bèn nghĩ kế đóng một chiếc trắp giống hệt chiếc trắp của thầy địa và hốt cốt ông thân sinh đựng vào, rồi đem giấu sẵn ở chân núi Hoành Sơn.

Ðến ngày đã chọn, thầy Tàu mang chiếc trắp cùng địa bàn đi lên Hoành Sơn. Vừa đến chân núi thì một con cọp to lớn ở trong bụi, gầm lên một tiếng, nhảy ra vồ. Thầy Tàu hết hồn, quăng trắp và địa bàn mà chạy. Hồi lâu không thấy cọp đuổi theo, liền quay trở lại chỗ cũ.

Đàn tế Trời Đất ở núi Hoành Sơn

Thấy chiếc trắp và địa bàn còn nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội trực chỉ lên nơi long huyệt đã tìm ra. Chôn cất xong, ông này hớn hở trở về Trung quốc. Ông không ngờ rằng chiếc trắp mình chôn vốn đựng di hài Nguyễn Phi Phúc (thân sinh 3 anh em Tây Sơn) và con cọp kia chỉ là người giả mà thôi.

Hai chuyện kể trên chỉ khác nhau ở chi tiết và điểm chung chính là mộ ông Nguyễn Phi Phúc chôn ở núi Hoành Sơn. Song không ai biết đích xác ở chỗ nào. Chỉ nghe truyền rằng mộ gối đầu lên dãy núi phía tây nam và lấy hòn Hương Sơn ở làm nội án, hòn Mò O làm ngoại án. Hai hòn này nằm xiên xiên hướng đông bắc núi Hoành Sơn. Vì có mộ của Nguyễn Phi Phúc nên núi Hoành Sơn được tôn xưng là Thiếu Tổ.

Nơi dựng cờ khởi nghĩa

Người dân nơi đây truyền rằng, sau khi chôn mộ cha trên núi Hoành Sơn thì ba anh em Nguyễn Nhạc vùng phát tướng. Mặt mày sáng rỡ, học hành thông thái cả võ lẫn văn. Thầy giáo Hiến dạy ba anh em Nguyễn Nhạc vốn là người có biệt nhãn lại thông thạo về khoa tướng số, xem biết anh em Nguyễn Nhạc đã vượng thời nên mới đem câu sấm: “Tây khởi nghĩa, bắc thu công” ra khuyên Nguyễn Nhạc về lo mưu đồ đại sự. 

Nghe lời thầy, ba anh em Nguyễn Nhạc chiêu tập hào kiệt, lấy dãy Hoành Sơn làm căn cứ. Nhờ vậy mà phát đế nghiệp. Cũng do vậy mà nhiều người dựa vào câu nói của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho Nguyễn Hoàng, vận vào thời đại Tây Sơn mà nói rằng: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại đồ vương”.

Câu sấm: “Tây khởi nghĩa, bắc thu công” của thầy giáo Hiến có nghĩa: Tây khởi nghĩa tức là dựng cờ nổi dậy ở vùng núi hướng tây của vùng Tây Sơn. Bắc thu công là thành công lớn ở hướng bắc. Và sự thật là năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân (Huế bây giờ) và tiến ra Bắc đánh thắng quân Thanh xâm lược năm 1789.

Khi Nguyễn Huệ đại thắng 20 vạn quân Thanh tại gò Đống Đa, đuổi Tôn Sĩ Nghị chạy về Trung Quốc mình không kịp mặc giáp, ngựa chưa thắng yên cương. Ông thầy địa lí năm xưa nhớ lại chuyện cũ, bèn bôn ba sang lại Hoành Sơn xem thử thì quả nhiên cuộc đất tìm ra năm trước đang phát. Hỏi thăm thì đó là mộ của ông Nguyễn Phi Phúc, thân sinh của ba anh em nhà Tây Sơn.

Thầy địa lí biết mình bị lừa nên tìm cách phá hoại long mạch để trả hận. Ông tìm gặp lại người xưa và mở lời khuyên Nguyễn Nhạc lấp mấy ngọn phụ lưu sông Côn ở phía nam và đào thêm mấy nhánh khác ở phía bắc để dẫn nước vào ruộng cho nhân dân cày cấy.

Vì lợi ích của muôn dân, Nguyễn Nhạc làm theo. Sông vừa đào xong, Nguyễn Huệ băng hà ở Phú Xuân vào năm 1792, Nguyễn Nhạc cũng mất vào năm 1793. Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, nhà Tây Sơn bị diệt vong.

Võ sư Phi Long kể chuyện về núi Hoành Sơn

Sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn, vua Gia Long (Nguyễn Ánh) đến núi Hoành Sơn thì thấy một khoảng dáng núi hơi cong cong. Ðứng phía trước trông vào thì giống một ghế bành vĩ đại mà lưng và tay dựa là núi, và mặt ghế là trảng đất.

Trên trảng nằm song song hai nấm mộ bằng đá, hình chữ nhật. Vua ngờ rằng đó là phần mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc nên truyền quan địa phương khai quật. Nhưng hài cốt không thấy đâu cả, mà chỉ thấy bốn chum dầu phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong chóng.

Ai cũng biết bốn chum dầu ấy do nhà Tây Sơn chôn, song không ai đoán ra mục đích. Và tất cả mọi người đều biết di hài của ông bà Nguyễn Phi Phúc táng tại Hoành Sơn nhưng cũng không có người nào biết được nơi chôn. Vua quan nhà Nguyễn ra công tìm kiếm nhưng dấu tích vẫn mờ mịt khói mây.

“Bạch mã hiện hình”

Trong sách “Non nước Bình Định”, nhà thơ Quách Tấn viết rằng, có người bảo rằng ngọc cốt của vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc cũng táng trong vùng núi Hoành Sơn. Việc này dựa theo chuyện “bạch mã hiện hình” mà ức đoán. 

Sinh thời, vua Thái Ðức có một con chiến mã thân vóc cao lớn, lông trắng như tuyết, đuôi và kỳ mao mịn như tơ. Nhà vua yêu quý rất mực. Sau khi nhà vua băng hà, con bạch mã sổng chuồng chạy mất, quan quân tìm kiếm không ra. Cách ít lâu, chiều chiều người trong vùng Hoành Sơn thường trông thấy bóng ngựa trắng, khi thì đi thơ thẩn dưới chân núi, khi thì lên trên đỉnh đứng hí não nùng. 

Mọi người đều tin rằng đó là con bạch mã, hoặc là hồn thiêng con bạch mã của vua Thái Đức. Vì tôn trọng nhà vua, người vùng Tây Sơn không một ai nuôi ngựa trắng. Nhưng sau khi hai nấm mộ bằng đá, hình chữa nhật ở núi Hoành Sơn bị nhà Nguyễn phá hủy thì bóng ngựa vắng biệt.

Vì sao thấy “bạch mã hiện hình” lại đoán rằng mộ vua Thái Ðức táng nơi núi Hoành Sơn? Theo nhà thơ Quách Tấn, ngựa vốn là giống vật rất khôn và có nghĩa. Nhiều con, khi chủ chết thì bỏ ăn bỏ uống rồi ra mả nằm chết theo. Lắm con không chết theo nhưng thỉnh thoảng tìm đến thăm mả chủ và cất tiếng hí thê lương. Nếu ngọc cốt của nhà vua không an táng nơi Hoành Sơn thì sao con ngựa hay hồn ngựa của nhà vua lại tìm đến.

“Ðó là ức đoán, chứ từ xưa đến nay không ai biết rõ nơi chôn cất vua Thái Ðức, mặc dù vẫn truyền rằng di thể được long trọng đưa về cố hương. Còn về việc người vùng Tây Sơn không nuôi ngựa trắng thì trước kia hoàn toàn do lòng tôn trọng vua Tây Sơn, sau này một phần lớn do lòng mê tín sợ thần Bạch Mã”, nhà thơ Quách Tấn viết.

Dù có hay không có, những huyền thoại kể trên thêm vào những di tích lịch sử càng làm tăng phẩm giá cho Hoành sơn. Và có điều chắc chắn rằng vùng Tây Sơn vẫn còn ẩn giấu rất nhiều bí ẩn cùng những di tích gắn với phong trào Tây Sơn, cần tiếp tục được giải đáp.

Theo các nhà phong thủy, núi Hoành Sơn là đại địa. Xung quanh Hoành sơn có nhiều ngọn núi bao bọc, mỗi ngọn mang một dáng dấp cổ vật. Trước mặt là ba dãy gò cao đá mọc giăng hàng rông như quân chầu, hổ phục; phía dưới là hai phụ lưu sông Côn từ phía tây và phía bắc chạy ra họp nhau tại đầu cầu Phú Phong như hai cánh tay người mẹ ôm chặt lấy Hoành sơn. Địa thế đó gọi là “long bàn hổ cứ”. Hiện, núi Hoành Sơn là một trong “Nhị thập bác cảnh” của Bình Định. 

Tháng 11/2011, công trình Đàn tế Trời Đất hay còn gọi là Khu du lịch tâm linh Ấn Sơn được khởi công xây dựng trên núi Hoành Sơn. Công trình gồm các hạng mục: Đàn tế Trời Đất, Đền Ấn và các công trình phụ trợ, trên khu đất rộng 46ha. Năm 2012, nhân kỷ niệm 220 năm ngày mất Hoàng đế Quang Trung (1792 - 2012), UBND tỉnh Bình Định đã làm lễ dâng hương và chính thức đưa công trình này đi vào hoạt động. Đây là địa chỉ để du khách gần xa đến thăm viếng, bày tỏ, chiêm bái tinh thần phong trào Tây Sơn trường tồn. 

TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Đọc thêm