Những điều chưa kể về chuyện học hành ở Mù Cang Chải

(PLO) - Điểm Trường Tiểu học Púng Luông có thư viện nhưng chỉ có vài chục đầu truyện đã quá cũ, báo dành cho thiếu nhi lại dừng ở mức khiêm tốn nên dù các em rất thích đọc song số lượng hạn chế… 

Những điều chưa kể về chuyện học hành ở Mù Cang Chải

“Giản dị” bữa cơm đến trường
Chúng tôi có mặt tại huyện miền núi Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái vào một ngày cuối tháng ba nhưng nắng đã chói chang. Mù Cang Chải là một huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Yên Bái, cũng vì thế mà công tác giáo dục ở đây gặp không ít trở ngại và nhiều thiếu thốn. Với hơn 90% dân số là đồng bào H’Mông và đa phần không biết chữ, kinh tế lại chủ yếu từ phát nương, làm rẫy và đi rừng nên nhận thức về việc đầu tư cho con em đến trường rất hạn chế. 
Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Thế Đồng tâm sự: “Trong nhiều năm qua, tuy đã nhận được nhiều sự quan tâm của chính quyền và các ban ngành nhưng anh em giáo viên nơi đây vẫn còn nhiều vấn đề trăn trở. Tập thể giáo viên của huyện đã nỗ lực cố gắng nhưng công tác phổ cập giáo dục gặp trở ngại chính bởi điều kiện kinh tế còn quá khó khăn của đông đảo đồng bào nơi đây”.
Lý giải cho điều này là một thực tế tại Mù Cang Chải khi nhiều địa bàn xã của huyện đường sá đi lại còn chưa có, đơn cử như xã Chế Tạo. Nằm cách trung tâm huyện chỉ 35km nhưng có những bản nằm cách UBND xã tới gần 20km. Đường đi vào cực kỳ khó khăn do chưa được bê tông hóa và phần nhiều giáo viên dạy tại đây đều phải cắm bản dạy cho các em học sinh. Nhiều lần vào thăm các lớp học ở đây, các giáo viên phải chủ động đi vào từ hôm trước hoặc đi từ sớm mới có mặt đúng điểm trường vào giờ lên lớp.
Xã Púng Luông, một trong những địa bàn khác của huyện, cũng là một trong những điểm trường còn nhiều khó khăn. Cô Phạm Thị Lân - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Púng Luông trao đổi: “Trong vài năm qua, trường ít có học sinh bỏ học và các em lên lớp tương đối đều. Trường có hơn 400 em học sinh và gần 30 giáo viên, nhân viên cùng với 7 điểm trường. Để có được kết quả như vậy, bản thân chúng tôi đã phải cố gắng và nỗ lực rất nhiều nhằm tạo mọi điều kiện cho các em đến trường”. 
Theo cô Lan, ngoài trở ngại về điều kiện kinh tế thì phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt cũng là những tác nhân chính khiến các em bỏ học và không theo được các bạn đến hết chương trình. Nhiều gia đình cũng không quan tâm tới việc học hành của các em. Khi thiếu lao động trong nhà, các em thường nghỉ học để lao động sản xuất, phụ giúp thêm bố mẹ đi nương.
Hỏi chuyện Thào A Tủa, học sinh lớp 6 Trường THCS Lê Văn Tám, xã Púng Luông, chúng tôi được biết nhà Tủa có 6 anh em nhưng chỉ duy nhất mình em đi học. Do nhà cách xa điểm trường tới 30km nên em ở trọ nhà một người quen gần đó cùng khoảng chục bạn khác. Hàng ngày Tủa dậy từ sớm tập thể dục cùng các bạn rồi lên lớp. 
Bữa trưa của Tủa “giản dị” đến mức chỉ có cơm trắng, nước trắng và một ít muối. Em bảo ăn như thế quen rồi. Bữa “cải thiện” của cậu học sinh người H’Mông này là một ít rau và một vài con cá mương ở suối do cậu tự đi bắt. Khó khăn là vậy nhưng Tủa cùng các bạn trọ học rất thích đọc sách văn học, thích học tiếng Anh.  
Theo ghi nhận của chúng tôi, sách giáo khoa và tài liệu đọc thêm cho các em như báo chí, tranh truyện thiếu nhi rất thiếu thốn. Điểm Trường Tiểu học Púng Luông có thư viện nhưng chỉ có vài chục đầu truyện đã quá cũ, báo dành cho thiếu nhi lại dừng ở mức khiêm tốn nên dù các em rất thích đọc song số lượng hạn chế. 
Cũng theo Hiệu trưởng Phạm Thị Lân, hàng năm trường được phát khoảng mấy chục đầu sách giáo khoa, phần nhiều là sách cũ nên không thể đủ hết cho các em. Cuối năm, số sách này thường được thu lại để dành cho năm sau. Cô Duyên, Tổng phụ trách Đội của Trường cho biết: “Vào mùa đông, nhiều học sinh vượt hàng chục kilômét đến trường mà chỉ mặc mỗi manh áo mỏng. Nhìn học sinh ngồi co ro mà giáo viên ứa nước mắt thương các em”.
Thầy cô và những chiếc gậy
Cô đơn, đó là cảm giác mà giáo viên vùng cao luôn phải đối mặt. Cô Phạm Thị Lân kể: “Đã có lúc tôi đi bộ hàng chục cây số, vượt qua những triền dốc thẳng đứng mà đi có một mình. Khi lên tới điểm trường để dạy, có hai cô giáo nữa cũng ở đấy. Gặp nhau mà mừng mừng, tủi tủi vì đã lâu hai cô mới gặp được đồng nghiệp, chứ ở bản làng heo hút như thế, có ai lui tới bao giờ đâu”.
Chúng tôi tìm nhà cô Dương Thị Hợp tại bản Ngã Ba Kim không mấy khó khăn bởi nhắc đến cô, hầu như tập thể giáo viên và nhiều người lên xây dựng vùng kinh tế mới ở đây ai cũng biết. Gắn bó với nghề giáo hơn 30 năm là cũng từng ấy năm cô gắn bó với sự nghiệp giáo dục miền núi. 
Giờ đây, khi đã là mẹ của ba người con gái (cũng là ba giáo viên), cô tâm sự: “Ngày mới lên công tác vào năm 1982, rừng núi lúc ấy còn hoang sơ và người Kinh chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ai vào nhà tôi hồi ấy đều thắc mắc tại sao có một đống gậy để ở góc nhà. Chả là, tôi cùng nhiều giáo viên đều phải đến từng bản, từng nhà đồng bào H’Mông ở đây vận động bà con cho con em họ đến trường. Không có gậy đi đường rừng núi để phòng thân và cả như “người bạn đường” trên hành trình suốt bao năm ấy, chắc chúng tôi không có được thành quả các em ý thức học tập và đến trường nhiều như hôm nay”…
TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Đọc thêm