Tứ đại đền thiêng xứ Nghệ: Bài 1: Truyền thuyết Đền Cờn

(PLVN) - Người dân xứ Nghệ (vùng Nghệ - Tĩnh xưa kia) có câu thành ngữ nói về tứ đại đền thiêng: “nhất Cờn, nhị Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”. Trong đó, đền Cờn được mệnh danh linh thiêng bậc nhất theo tín ngưỡng dân gian, đây là một di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia đã được Nhà nước công nhận từ năm 1993.

Đền Cờn mùa lễ hội.

Đền Cờn mùa lễ hội.

Ngôi đền của những truyền thuyết linh thiêng

Phường Quỳnh Phương (thị xã Hoàng Mai, Nghệ An) nơi đền Cờn tọa lạc hiện nay xưa kia có tên là xã Hương Cần; cửa Cờn ngày xưa gọi là cửa Đại Càn hay Đại Cần. Gần 700 năm trước, đền Cờn được lập ra thờ Tứ vị Thánh Nương. Vậy Tứ vị Thánh Nương đó là ai?

Theo thần phả tại đền và một số tài liệu lịch sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, có ghi: Vào năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279), quân Tống thất bại trong trận chiến Tống - Nguyên, vua Tống Đế Bính cùng quan quân tự vẫn. Thái hậu Dương Nguyệt Quả cùng 2 công chúa và bà nhũ mẫu cũng nhảy xuống biển tự vẫn, thân xác trôi dạt đến cửa Cờn, được người dân nơi đây vớt lên chôn cất và thờ tại Đền.

Dân làng Càn thấy thi thể những phụ nữ chết đuối mặc xiêm y quý tộc, da dẻ hồng hào, trên người phảng mùi thơm như lan, như quế thì lấy làm rất thương xót, liền làm lễ chôn cất tử tế và lập miếu thờ. Mỗi khi ra khơi, đến cầu khấn đều thấy linh nghiệm. Từ đó, người dân đặt tên cho địa phương mình là Hương Cần, hay Phương Cần.

 Ban thờ Tứ vị Thánh nương trong đền Cờn. 

Xung quanh đền Cờn tồn tại nhiều truyền thuyết. Một số truyền thuyết khác lưu truyền, Tứ vị Thánh nương gồm Thái hậu Dương Nguyệt Quả, Quách Thị hoàng hậu, cùng hai công chúa. Lại có tích khác cho rằng, Tứ vị Thánh nương là Thái hậu và 3 công chúa.

Đặc biệt, trong dân gian vùng ven biển Quỳnh Phương còn lưu truyền một câu chuyện rằng đức Thánh nữ được thờ phụng trong Đền là một bậc cung phi của nước Việt chứ không phải người Nam Tống (câu chuyện này sẽ được chúng tôi tìm hiểu và phản ánh trong bài viết tiếp theo).

Tuy mỗi câu chuyện có những tình tiết khác nhau, nhưng tất cả đều ẩn chứa sự linh thiêng, huyền bí, là nguồn gốc để hình thành nên giá trị tâm linh độc đáo của Đền. 

Ngoài ngôi đền chính tọa lạc bên dòng Mai Giang (Đền Cờn trong) còn có đền phụ nằm bên bãi biển Quỳnh Phương (Đền Cờn ngoài), cách nhau chỉ chừng 1km. Bài viết này tập trung giới thiệu về ngôi đền chính nổi tiếng là Đền Cờn trong.

Ngôi đền thiêng gắn với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc

Tương truyền, năm Hưng Long thứ 19 (1311), vua Trần Anh Tông thân chinh đi đánh quân Chiêm Thành, khi đến cửa Cờn thì dừng lại nghỉ ngơi. Nửa đêm, vua nằm mộng thấy nữ thần muốn giúp mình lập công đánh giặc.

Sáng hôm sau, Vua cho mời các bô lão trong vùng đến hỏi mới rõ sự tích Đền Cờn, liền vào kính tế. Sau đó, vua dẫn quân đến thẳng thành Chà Bàn và thắng lớn. Khi trở về kinh đô, vua làm lễ phong sắc “Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh nương”, ban vàng bạc và cho mở rộng Đền.

 Năm Hồng Đức thứ nhất (1470), vua Lê Thánh Tông trên đường mang quân đánh dẹp phương nam cũng dừng chân tại đây, vào Đền làm lễ cầu đào. Nhờ Tứ vị Thánh Nương hiển linh phù trợ, nhà vua đã đánh thắng giặc. Khi trở về, vua cho trùng tu Đền nhằm báo đáp các vị Thánh nương giúp nước, giúp dân.

Sang thế kỷ 18, vua Quang Trung đã sắc phong cho Đền Cờn với mỹ tự “Hàm hoằng quảng đại” (nghĩa là công lao rộng khắp, to lớn) và “Hàm chương tiết liệt” (nghĩa là nêu gương tiết liệt cho muôn đời). Và từ khi lập đền, ngư dân quanh vùng mỗi khi ra khơi, thành tâm vào đền cầu khấn thì đều được bình an.

Giá trị văn hóa, lịch sử độc đáo

Trải qua nhiều đợt trùng tu, đền Cờn hiện nay nằm cận biển, sát núi, trên gò Diệc, dưới bóng cây cổ thụ, hướng mặt ra dòng Mai Giang thơ mộng, Đền mẫu Cờn Nghệ An có phong thủy đẹp, thế đứng giống đầu chim phượng hoàng với hai cánh là hai đồi cát giăng dài phía sau đền, hai mắt phượng là giếng Đò và giếng Đình nằm trên hai ngọn đồi này.

Tưng bừng lễ hội đền Cờn (Đền Cờn trong).  

Đền Cờn được xây dựng từ thời Trần, phát triển quy mô vào thời Lê, trùng tu nhiều ở thời Nguyễn, do vậy mang đậm phong cách kiến trúc cuối thời Lê đầu thời Nguyễn. Trải qua thời gian và những biến cố, ngôi đền hiện chỉ còn lại tòa Nghi môn, Chính điện, Trung điện, Hạ điện và tòa ca vũ.

Qua cổng đền vào sân, bước lên 10 bậc đá sẽ tới tòa Nghi môn. Đây là một tòa nhà hình chữ Công bề thế, gồm 2 tầng, 8 mái, liền tiếp phía sau là Chính điện, Trung điện và Hạ điện. Riêng tòa ca vũ với 3 gian chính và 2 gian phụ cũng to rộng và có đề tài trang trí đa dạng.

Đền Cờn hội tụ nhiều nét đặc sắc, từ vật liệu xây dựng cho đến các đường nét chạm khắc, tạo hình... thể hiện tay nghề điêu luyện của người xưa. Bên trong đền còn lưu giữ 142 hiện vật quý giá, gồm các loại bằng sắc, câu đối, đại tự, đồ tế khí (kiệu, tàn lọng, đồ ngà, đồng...), bia đá 2 mặt (cao 1.6m, rộng 1.2m, được dựng năm 1665), chuông đồng đúc năm Cảnh Hưng (1752) nặng 300 kg, cùng 28 pho tượng đá và nhiều tượng gỗ thời Lê...

Hàng năm Lễ hội Đền Cờn được tổ chức từ ngày 19 - 21 tháng Giêng âm lịch với các hoạt động văn hóa truyền thống như diễn trận thủy chiến giả gắn với truyền thuyết dựng đền, đu tiên, đấu vật, đánh cờ người, đua thuyền rồng, hát tuồng, chèo, chầu văn... 

(Đón đọc: Đền Quả Sơn thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang)

Cùng chuyên mục
 Tìm hiểu về “Thập thiện nghiệp” của Phật giáo (kỳ cuối)

Tìm hiểu về “Thập thiện nghiệp” của Phật giáo (kỳ cuối)

(PLVN) - Theo Phật giáo, tất cả chúng sinh đều phải biết nương nhờ “thập thiện nghiệp” (mười nghiệp lành) như một kim chỉ nam vô giá quyết định phương hướng cho hạnh phúc. Trong mười nghiệp lành đạo Phật chia ra thân có 3, khẩu có 4 và ý có 3. Nếu thân khẩu ý được điều tiết, gìn giữ, bảo trọng, phát huy và tăng trưởng 10 nghiệp lành này, được gọi là thân khẩu ý trọn lành hay tam nghiệp trọn lành.
Đọc thêm