Dự thảo quy định về giấy phép hoạt động điện lực: Thông tư “vượt” nghị định?

(PLO) - Bộ Công Thương đang xây dựng Dự thảo Thông tư quy định về trình tự, thủ tục cấp, thu hồi và thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực, tuy nhiên, theo các chuyên gia Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), thì một số nội dung tại Dự thảo Thông tư còn “vượt” quy định tại Nghị định 137/2013/NĐ-CP.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Dự thảo Thông tư “đẻ” thêm điều kiện

Về nguyên tắc, thành phần hồ sơ là tài liệu để chứng minh người đề nghị cấp phép có đủ điều kiện theo quy định. Vì vậy, thành phần hồ sơ phải tương ứng với các điều kiện và không được yêu cầu thành phần hồ sơ vượt quá so với các điều kiện, dù rằng có thể yêu cầu thành phần hồ sơ ít hơn, trong những trường hợp hậu kiểm. 

Trong khi đó, so sánh các quy định về thành phần hồ sơ tại Dự thảo Thông tư so với các điều kiện cấp phép quy định tại Nghị định 137/2013/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lực và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực) có một số trường hợp yêu cầu hồ sơ nhiều hơn, vượt quá yêu cầu của Nghị định 137/2013/NĐ-CP.

Cụ thể, khoản 3 Điều 9 của Dự thảo về hồ sơ cấp giấy phép tư vấn chuyên ngành điện lực yêu cầu phải có danh sách trích ngang của cán bộ quản lý, chuyên gia tư vấn, bản sao bằng tốt nghiệp và chứng chỉ hành nghề. Tuy nhiên, Nghị định 137/2013/NĐ-CP chỉ yêu cầu điều kiện năng lực của chuyên gia tư vấn mà không yêu cầu đối với cán bộ quản lý. Tương tự, Nghị định 137 cũng chỉ yêu cầu chuyên gia phải tốt nghiệp đại học, chứ không yêu cầu các chứng chỉ hành nghề.

Khoản 4 Điều 10 của Dự thảo yêu cầu danh sách trích ngang của đội ngũ trưởng ca, trong khi Nghị định 137/2013/NĐ-CP chỉ yêu cầu đối với người trực tiếp quản lý kỹ thuật mà không yêu cầu đối với trưởng ca.

Khoản 7 Điều 10 của Dự thảo Thông tư yêu cầu phải có hợp đồng mua bán điện thì mới được cấp phép sản xuất điện, trong khi Nghị định 137/2013/NĐ-CP không yêu cầu điều này. Hơn nữa, việc yêu cầu hợp đồng mua bán điện cũng không cần thiết, vì giấy phép sản xuất điện được cấp nhằm bảo đảm nhà máy phát điện đó an toàn, đáp ứng điều kiện kỹ thuật. Còn việc mua bán điện là vấn đề của thị trường, Nhà nước không nên can thiệp.

Tương tự, khoản 11 Điều 10 yêu cầu cơ sở phát điện phải nộp bản sao quy trình phối hợp vận hành nhà máy phát điện với đơn vị điều độ hệ thống điện khi xin giấy phép, khoản 13 Điều 10 yêu cầu cơ sở phát điện phải có biên bản nghiệm thu tuyến năng lượng khi xin cấp phép.  Trong khi đó, Nghị định 137/2013/NĐ-CP không yêu cầu các điều kiện này.

Khoản 4 Điều 11 yêu cầu đơn vị xin phép truyền tải, phân phối điện phải có danh mục các hạng mục công trình lưới điện chính do tổ chức đang quản lý, vận hành, khoản 6 Điều 11 yêu cầu đơn vị xin phép truyền tải, phân phối điện phải có bản sao thỏa thuận đấu nối hoặc hợp đồng đấu nối, khoản 7 Điều 11 yêu cầu đơn vị xin phép truyền tải, phân phối phải có bản đồ ranh giới lưới điện và phạm vi hoạt động, trong khi Nghị định 137/2013/NĐ-CP không yêu cầu điều này.

Ghi rõ dẫn chiếu về trách nhiệm, nghĩa vụ để doanh nghiệp dễ thực hiện

Các phụ lục của Nghị định 137/2013/NĐ-CP hiện đang quy định về mẫu giấy phép với nhiều nội dung đi kèm là các nghĩa vụ của doanh nghiệp về đất đai, môi trường, tài chính, nghĩa vụ báo cáo, cấp lại, gia hạn giấy phép… Theo VCCI, việc thể hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp trong phần biểu mẫu văn bản thay vì trong phần nội dung chính của văn bản quy phạm pháp luật là chưa phù hợp, làm giảm tính minh bạch của hệ thống pháp luật. 

Hơn nữa, nhiều nghĩa vụ được thể hiện trong các mẫu văn bản này lại không thống nhất, hoặc mở rộng hơn các nghĩa vụ đã được quy định trong các văn bản pháp luật khác, ví dụ: nghĩa vụ lưu giữ tài liệu, nghĩa vụ báo cáo, nghĩa vụ lập kế hoạch đầu tư phát triển, thậm chí quy định cả những hành vi bị cấm…

VCCI cho rằng, việc thể hiện lại các nội dung về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong mẫu văn bản cấp phép có thể có tác dụng nhắc nhở doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, các nội dung này phải hoàn toàn thống nhất với những nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác và phải ghi rõ dẫn chiếu đến các văn bản quy phạm pháp luật đó để tiện cho doanh nghiệp trong việc tra cứu khi pháp luật thay đổi. “Đề nghị cơ quan soạn thảo tiến hành rà soát, sửa đổi các phần phụ lục của giấy phép theo hướng thống nhất và có dẫn chiếu đến những văn bản quy phạm pháp luật” – VCCI nêu rõ trong văn bản gửi Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công Thương) để góp ý vào Dự thảo Thông tư. 

TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Doanh nghiệp Thịnh Vượng 66 vi phạm pháp luật “động trời”, chính quyền TP Hải Dương vẫn khoanh tay đứng nhìn

Doanh nghiệp Thịnh Vượng 66 vi phạm pháp luật “động trời”, chính quyền TP Hải Dương vẫn khoanh tay đứng nhìn

(PLVN) - Công ty Cổ phần đầu tư phát triển Thịnh Vượng 66 xây dựng nhiều hạng mục công trình “khủng” để làm Trung tâm đào tạo sát hạch lái xe trái phép trên hàng nghìn mét đất nông nghiệp và san phẳng hơn 1 hecta đất công do UBND xã An Thượng quản lý nhưng các cấp chính quyền TP Hải Dương vẫn không ngăn chặn, xử lý, dẫn đến hậu quả vi phạm nghiêm trọng, khó khắc phục.
Đọc thêm