Đề xuất chính sách hỗ trợ Covid-19 đợt 2: Phải cân đối cung - cầu và tính hiệu quả

(PLVN) - Theo TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu  BIDV, cũng như các nước, Việt Nam đến nay đã công bố, triển khai và đạt kết quả nhất định đối với các gói hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây là những chính sách hỗ trợ chủ yếu từ phía cung mà chưa tính đến yếu tố cầu của DN và người dân.

Du lịch là ngành bị thiệt hại nhiều nhất do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Du lịch là ngành bị thiệt hại nhiều nhất do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Nắm rõ khó khăn của đối tượng thụ hưởng

Các chính sách được công bố thời gian qua chủ yếu được cung cấp bởi Chính phủ, Ngân hàng trung ương mà chưa tính chính xác là các đối tượng thụ hưởng thực sự gặp phải khó khăn, thách thức như thế nào, kết quả thực hiện đã giúp họ đến đâu và góp phần phục hồi kinh tế ra sao?

Qua quan sát cách thức thiết kế và thực hiện các chính sách, gói hỗ trợ của các nước, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đưa ra bốn kiến nghị đối với Việt Nam. Trước hết, Chính phủ cần tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ và triển khai hiệu quả các gói hỗ trợ hiện tại, như đã được nhận diện trong thời gian qua.

Thứ hai, Chính phủ cũng cần sớm xây dựng một số chính sách, gói hỗ trợ bổ sung (giai đoạn 2), Gói hỗ trợ bổ sung này phải được xây dựng với các nguyên tắc cơ bản như: Quy mô đủ lớn và thời gian phù hợp; Đảm bảo độ bao phủ; có chọn lọc, phân loại ngành nghề để hỗ trợ; Phải triển khai nhanh, gọn, đúng đối tượng.

Về quy mô gói hỗ trợ, theo Nhóm nghiên cứu, gói hỗ trợ giai đoạn 2 có thể tương đương các gói giai đoạn 1, khoảng 2,5% GDP (như vậy tổng các gói hỗ trợ cả hai giai đoạn khoảng 5,5% GDP); Thời gian có thể là từ quý IV/2020 đến hết năm 2021 thì mới có thể giúp người dân, DN vượt khó. 

Độ bao phủ của gói hỗ trợ này phải bảo đảm đến cả lao động không chính thức (tự do) vì đây là đối tượng dễ bị tổn thương nhất, đến cả DN nhỏ và lớn vì cả hai đều chịu tác động tiêu cực; Rút kinh nghiệm từ gói hỗ trợ trước, gói hỗ trợ lần này cần có chọn lọc, phân loại ngành nghề để hỗ trợ, trên cơ sở đánh giá, khảo sát nhanh tác động của dịch Covid-19 đến ngành, nghề cụ thể và có điều kiện, tiêu chí cụ thể.

“Việc triển khai gói hỗ trợ phải nhanh, gọn, đúng đối tượng, chuyển hỗ trợ bằng nhiều kênh khác nhau (trong đó, hết sức chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin như: Dịch vụ mobile money, ví điện tử…) mới đảm bảo chính sách nhân văn sớm đi vào cuộc sống. Đồng thời, cần đề xuất có cơ chế, phân quyền đặc thù cho Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ để có thể ra quyết định nhanh chóng, kịp thời…” - ông Lực nói.

Chọn ngành, lĩnh vực để hỗ trợ

Kiến nghị thứ ba mà Nhóm nghiên cứu này đưa ra là về lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực để ưu tiên hỗ trợ. “Qua đánh giá tác động của dịch Covid-19 đối với các ngành nghề trong 8 tháng đầu năm 2020, chúng tôi nhận thấy những ngành nghề chịu tác động tiêu cực theo thứ tự giảm dần, đó là: du lịch; vận tải; dệt may, da giày; bán lẻ; giáo dục - đào tạo.

Về điều kiện/tiêu chí DN nhận hỗ trợ, Chính phủ có thể căn cứ ít nhất vào 5 tiêu chí chủ yếu, bao gồm: tính lan tỏa (tác động tích cực tới các ngành, lĩnh vực khác), lao động (tạo nhiều công ăn việc làm), có khả năng áp dụng công nghệ và năng lượng sạch,  có khả năng phục hồi, và cam kết không sa thải nhân viên (hoặc không quá 10%)…” - TS Lực đề xuất.

Song song với xây dựng chính sách hỗ trợ, theo đề xuất của Nhóm nghiên cứu, Chính phủ cũng cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp khác mang tính bổ trợ và dài hạn khác. 

Cụ thể, cần nghiên cứu xây dựng gói hỗ trợ khẩn cấp (cho cả thiên tai và dịch bệnh với cơ chế đặc thù); Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng thực chất hơn nữa nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN, nhất là về thủ tục hành chính (kể cả đối với các gói hỗ trợ; Ban hành chính sách và giải pháp cụ thể để thu hút dòng vốn FDI trong bối cảnh dịch chuyển chuỗi sản xuất; 

Đồng thời tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công như là một giải pháp bù đắp thiếu hụt động lực tăng trưởng trong năm 2020-2021 và cũng là động lực tăng trưởng dài hạn, với điều kiện không hình thức, không giải ngân bằng mọi giá mà vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng. Cùng với đó là tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là các thị trường còn nhiều dư địa như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, ASEAN, Hoa Kỳ và EU, và tận dụng tốt hơn nữa các hiệp định CPTPP và EVFTA; đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế số, Chính phủ điện tử và thanh toán, giao dịch điện tử;…

“Giải pháp hỗ trợ DN vừa qua là rất nhiều, từ Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Thông tư… , nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của DN, đa số DN phản ánh khó tiếp cận, nhất là DN nhỏ và vừa. Đặc biệt các chính sách gia hạn thuế và tiền thuê đất, thực tế cho thấy nhiều DN không có thu nhập thì lấy đâu thuế để được gia hạn. Hay như nhiều DN có thuê đất của nhà nước đâu mà được gia hạn tiền thuê đất?” - bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (CIEM).
TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Tại sao hợp đồng ký kết là “linh hồn” các dự án PPP?

Tại sao hợp đồng ký kết là “linh hồn” các dự án PPP?

(PLVN) - Luật PPP mới cần nới lỏng quy định để hợp đồng giữa nhà đầu tư và cơ quan quản lý Nhà nước có những điều khoản linh hoạt, là thỏa thuận bình đẳng giữa các bên. Khi đó, hợp đồng sẽ là “linh hồn” dự án PPP, khuyến khích nhà đầu tư tham gia hình thức đầu tư này.
Đọc thêm