Vén màn bí mật cuộc tìm kiếm sự sống ngoài trái đất (Kỳ 1): Câu hỏi 'treo' từ cổ tới kim

(PLVN) - UFO không phải là hiện tượng mới. Ngay từ năm 593 trước Công nguyên, nhà tiên tri người Do Thái đã ghi lại sự xuất hiện của một quả cầu lửa ở phương Bắc. Đến năm 1254, tại Tu viện Albans Abbey, vào ngày thứ 8 của kỳ trăng tròn, trên bầu trời cũng đã xuất hiện một con tàu có hình dáng rất đẹp, hiện đại, màu sắc bắt mắt. 

Phi công Kenneth Arnold và mô phỏng vật thể ông ta đã nhìn thấy

Phi công Kenneth Arnold và mô phỏng vật thể ông ta đã nhìn thấy

Vào năm 1520, ở Pháp, người ta cũng đã nhìn thấy một vật thể hình tròn có những chiếc đèn đảo chiều. Năm 1874, một nông dân báo tin đã nhìn thấy một vật thể màu đen có hình dạng của một chiếc đĩa bay đang bay trên bầu trời với tốc độ cao. Ngoài ra, rất nhiều sự kiện tương tự cũng đã được các sử gia ghi lại. Thời kỳ hiện đại của UFO được nhiều người xác định là ngày 24/6/1947. 

Những chiếc đĩa bay siêu thanh

Vào ngày 24/6 năm đó, viên phi công Kenneth Arnold đang điều khiển chiếc máy bay tư nhân tìm kiếm một chiếc máy bay vận tải của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ được cho là đã bị rơi xuống khu vực phía tây nam của dãy núi Ranier. Ban đầu, Arnold lái máy bay bay ở độ cao gần 2.900m để tìm kiếm ở các ngọn núi ở phía tây.

Không tìm thấy gì, ông quay ngược trở lại dãy Ranier. Thời tiết hôm đó rất đẹp, khiến Arnold quyết định để máy bay ở chế độ lái tự động để có thời gian ngắm quang cảnh. Tuy nhiên, chỉ sau đó khoảng 3 phút, ông bất ngờ phát hiện một luồng sáng từ đâu rọi vào thân máy bay.

Sau khi nhìn quanh, Arnold phát hiện ở phía bên trái của máy bay có một nhóm bao gồm 9 vật thể có hình dạng khác thường đang bay dàn thành hàng từ phía bắc xuống phía nam của dãy Ranier. Những vật thể kỳ lạ hướng về Ranier với vận tốc rất nhanh, khiến Arnold nghĩ rằng đó là một chiếc máy bay phản lực.

Tuy nhiên, cứ vài giây, 2 hoặc 3 vật thể trong số đó sẽ hạ độ cao hoặc đột ngột thay đổi hướng bay nhưng vẫn đảm bảo phản chiếu ánh sáng mặt trời. 

Những vật thể đó ở quá xa khiến Arnold không thể xác định được chính xác hình dáng của chúng. Song, khi chúng tiến đến gần Ranier, Arnold cho biết ông nhìn thấy chúng khá rõ ràng. Có điều, kỳ lạ là ông không thấy phần đuôi của những vật thể đó.

Sau đó, những vật thể lạ tiếp tục bay qua khu vực rìa phía nam của ngọn núi và dần mất dạng. Arnold kể lại rằng những vật thể thay đổi độ cao liên tục trong hành trình nhưng luôn tạo thành một chuỗi chéo như thể chúng được liên kết với nhau. Ngoài ra, chúng cũng luôn duy trì vị trí và hướng bay khi tiến tới và ra khỏi những dãy núi.

Theo ước tính của ông Arnold, khoảng cách giữa ông và các vật thể lạ là khoảng hơn 30km. Bằng các công cụ chuyên dụng, viên phi công cho rằng những vật thể bay lạ có kích thước bằng khoảng 2/3 kích thước của một chiếc máy bay dân dụng DC-4.

Khoảng cách từ vật đầu tiên đến vật cuối cùng trong chuỗi các vật thể lạ này được xác định rơi vào khoảng 8km. Toàn bộ quá trình di chuyển của chuỗi vật thể này từ khu vực dãy núi Ranier tới dãy Adams khoảng 66km nhưng chúng chỉ mất đúng 1 phút, 42 giây, tức có tốc độ di chuyển là khoảng 2.670km/h. 

Trong một cuộc phỏng vấn với báo chí sau này, ông Arnold miêu tả những vật thể di chuyển như những chiếc đĩa bay trên mặt nước. Miêu tả này về sau được truyền thông rút ngắn thành những chiếc đĩa bay và trở thành cụm từ quen thuộc mỗi khi nói đến UFO. Song, tương tự như các vụ việc khác, những hình ảnh mà phi công Arnold khẳng định đã nhìn thấy không thể tái hiện để điều tra. 

Hàng loạt những cuộc ghé thăm 

Thông tin về cuộc chạm trán của ông Arnold sau khi được công khai trên báo chí đã khởi động cho hàng loạt những báo cáo về những cuộc “chạm trán” đĩa bay tương tự. Không quân Mỹ trong một thời gian ngắn sau đó bắt đầu nhận được vô số những tin báo từ người dân ở khắp nơi, khẳng định chắc nịch đã nhìn thấy UFO, hay các đĩa bay.

Người ta thi nhau đồn đoán rằng những vật thể không xác định đó chính là sản phẩm của con người ở một hành tinh nào khác bên ngoài hệ mặt trời đã ghé thăm Trái Đất của chúng ta.

Những hiện tượng kỳ lạ này được ghi nhận không chỉ ở Mỹ mà còn trên khắp thế giới. Ví dụ, một báo cáo của CIA đã được giải mật cho biết, trong khoảng từ tháng 5 tới tháng 9/1947, khoảng 15 phút mỗi đêm, trong khoảng thời gian từ 21h00 đến 22h00, tại thành phố Tashkent của Uzbekistan đã ghi nhận 3 chùm ánh sáng lạ.

Ghi chép của ông Kenneth Arnold về vụ việc.

Ở thời điểm mạnh nhất, khối sáng này có kích cỡ bằng khoảng 1/5 đường kính của mặt trăng. Theo các ghi chép, khối sáng đó luôn bắt đầu bằng một khối tròn màu đỏ tươi. Vài giây sau đó, lửa sẽ bốc lên ở phía đuôi và luồng sáng chuyển dần thành màu xanh trước khi sang màu trắng. Tuy nhiên, luồng sáng đó di chuyển nhanh nhưng không hề có khói, hay tiếng ồn.

Tại Áo, một tờ báo của nước này cũng đã đưa tin về sự xuất hiện của 2 đĩa bay kỳ lạ vào giữ tháng 8/1952. Chỉ huy Pierre thậm chí đã đích thân lái máy bay xuất kích để tiêu diệt các “máy bay” lạ nhưng đã phải từ bỏ việc tìm kiếm vì những vật thể này sau khoảng 15 phút đã biến mất dạng ở đường chân trời.

Một người Đức thì khẳng định đã bắt gặp một chiếc đĩa bay khi cùng con gái đạp xe trong rừng. Thậm chí, người này khẳng định đã nhìn thấy 2 người đàn ông mặc quần áo làm bằng kim loại lấp lánh đang ngồi trên chiếc đĩa bay hình nón. Theo lời người này, khi phát hiện người khác bắt gặp, những người trên chiếc đĩa bay đã vội vã điều khiển nó phóng đi mất.

Trước tháng 12/1947, ở Mỹ không có cơ quan cụ thể nào chịu trách nhiệm điều tra và đánh giá những thông tin về các vụ việc này. Các thông tin về sự xuất hiện đĩa bay cũng được đánh giá rất khác nhau, thậm chí ngay trong quân đội Mỹ. Có người giải thích rằng đó thực chất chỉ là những hiện tượng tự nhiện, có người cho rằng đó là tàu không gian…

Việc tìm hiểu các thông tin cũng được giao cho nhiều cơ quan khác nhau, từ tình báo, tới phòng không… Để chấm dứt tình trạng này, ngày 30/12/1947, Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã quyết định lập một dự án nhằm thu thập, đối chiếu, đánh giá và xử lý tất cả các thông tin có liên quan đến những vật thể được cho là có thể ảnh hưởng đến an nnh quốc gia của Mỹ. Dự án này có mật danh là “Dấu hiệu” và được giao cho Trung tâm tình báo kỹ thuật trên không của Mỹ phụ trách. 

Trợ lý Phó giám đốc văn phòng tình báo khoa học của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) trong một báo cáo tháng 8/1952 cho biết Trung tâm tình báo kỹ thuật trên không của Mỹ đã nhận được tới 2.000 tin báo về UFO. Trong số đó, khoảng 1.000 tin báo được xác định là do các thiết bị của Mỹ gây ra.

Nhưng, trong số đó cũng có rất nhiều tin báo cần phải được nghiên cứu, làm rõ. 2 tháng sau, ngày 2/10/1952, Trợ lý Giám đốc Văn phòng tình báo khoa học của Mỹ tiếp tục gửi một bản ghi nhớ tới Giám đốc CIA về chủ đề đĩa bay.

Báo cáo đánh giá những chiếc đĩa bay đó đặt ra 2 yếu tố nguy hiểm đối với an ninh quốc gia của Mỹ, thứ nhất là tâm lý của người dân và thứ 2 là sự tổn thương của Mỹ trước một vụ không kích. Do đó, Văn phòng tình báo khoa học của Mỹ đề nghị tiếp tục nghiên cứu về vấn đề đĩa bay.

(còn tiếp

TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Đọc thêm