Mạng xã hội vẫn nằm ngoài Luật Báo chí

(PLO) - Tại kỳ họp thứ 10, QH khóa XIII, nhiều ĐB đã cho rằng Luật Báo chí điều chỉnh cả các trang mạng xã hội.. Tuy nhiên, tại Dự thảo lần này, hoạt động của các trang mạng xã hội vẫn nằm ngoài Luật Báo chí.

Nhà báo tác nghiệp (ảnh Internet)

Nhà báo tác nghiệp (ảnh Internet)

Trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) tại phiên làm việc của Quốc hội chiều 21/3, Chủ nhiệm UBVHGD-TTN-NĐ Đào Trọng Thi cho biết: Có ý kiến đề nghị xem xét đưa một số sản phẩm thông tin có tính chất báo chí như trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội vào điều chỉnh tại luật này. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị nên tiếp tục điều chỉnh các sản phẩm thông tin trên tại các văn bản dưới luật hiện hành.

Quan điểm của UBTVQH cho rằng, ở nước ta, báo chí là sản phẩm thông tin do cơ quan báo chí thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh báo chí còn có một số sản phẩm thông tin có tính chất báo chí do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện như đặc san, bản tin, trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội. Các sản phẩm này có phương thức tổ chức và quản lý hoạt động khác nhau.

UBTVQH nhận định mạng xã hội là hệ thống thông tin cung cấp cho người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin. Mạng xã hội hoạt động trong môi trường ảo, thường không có người chịu trách nhiệm, đồng thời người viết và tham gia bình luận thường cũng chỉ sử dụng biệt danh. Hiện nay, hoạt động của mạng xã hội đang được điều chỉnh bởi Nghị định số 72/2013/NĐ-CP và Nghị định số 174/2013/NĐ-CP. 

Từ những nhận định đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho phép giữ nguyên quy định như dự thảo Luật đối với đặc san, bản tin; đồng thời bổ sung một số quy định phù hợp với đặc điểm của trang thông tin điện tử tổng hợp thể hiện tại các khoản 17 và 20 Điều 3, khoản 13 Điều 9 và Điều 36 dự thảo Luật, còn mạng xã hội để văn bản pháp luật khác điều chỉnh”, Chủ nhiệm Đào Trọng Thi cho biết.

Đề cập đến quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí (Chương II), ông Đào Trọng Thi cho rằng tên Chương II và nội dung của chương chưa chỉ rõ chủ thể của quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí; chưa làm rõ nội dung quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; trình bày thiếu logic và trùng lặp..

UBTVQH đã bổ sung, chỉnh lý tên Chương II thành Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân và thiết kế lại chương này theo hướng quy định cụ thể quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Cũng liên quan đến quyền tự do báo chí,  UBTVQH cho biết Dự thảo Luật đã quy định cụ thể các lĩnh vực tư nhân được liên kết với cơ quan báo chí. Khoản 2 Điều 14 cũng đã cho phép các cơ sở giáo dục đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu trong đó có nhiều cơ sở do tư nhân thành lập, được có tạp chí khoa học. Đây chính là một hình thức tư nhân tham gia hoạt động báo chí. Đồng thời Dự thảo Luật đã dành một chương (Chương II) quy định quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, trong đó quy định cụ thể công dân được tham gia vào mọi công đoạn trong hoạt động báo chí như: sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí, in và phát hành báo chí.

Trước ý kiến đề nghị quy định nhà báo trong quá trình tác nghiệp phải được coi là người thi hành công vụ để có cơ chế bảo vệ đối tượng này, UBTVQH cho rằng không thể coi hoạt động tác nghiệp của nhà báo là thi hành công vụ. Bởi công vụ là hoạt động do cán bộ, công chức nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, của xã hội và được pháp luật bảo vệ. Nhà báo tác nghiệp cũng nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội, nhưng không nhân danh Nhà nước, không đại diện cho Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ của mình, mà hoạt động theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí. Do vậy, 

TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Đọc thêm