Tiếp thêm niềm tin cho những bạn đọc đi tìm công lý

(PLVN) - Là một nhân sự đã từng gắn bó với Báo PLVN khá lâu, từ năm 1997 đến năm 2014, tôi có nhiều kỷ niệm trong thời gian công tác tại đây. Một trong số đó là chuyện tôi đã từng “giải mã” thực trạng giám đốc thẩm (GĐT) ở Việt Nam trên Báo PLVN gần 15 năm trước.

Nhà báo Đăng Bình (khi là phóng viên Báo PLVN) tác nghiệp trong loạt bài minh oan cho anh Bùi Minh Hải năm 1999.

Nhà báo Đăng Bình (khi là phóng viên Báo PLVN) tác nghiệp trong loạt bài minh oan cho anh Bùi Minh Hải năm 1999.

Nỗi niềm day dứt

Tôi gia nhập Báo PLVN từ năm 1997, công tác tại Cơ quan đại diện phía Nam. Là một người từng học Luật, tôi được phân công theo dõi mảng nội chính. Sau nhiều năm làm phóng viên pháp đình, điều khiến tôi day dứt là hình ảnh tuyệt vọng của những người dân làm đơn xin GĐT bị trả lời là không có cơ sở kháng nghị, tìm đến Báo PLVN để kêu cứu. 

Khiếu nại xin GĐT, đó là khi bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng đương sự hoặc người thân của bị cáo trong các vụ án hình sự cảm thấy mình bị oan sai, tuy nhiên họ không còn quyền kháng cáo nữa mà chỉ còn cách duy nhất là viết đơn cầu cứu để được kháng nghị với hy vọng bản án đó được xem xét lại theo thủ tục GĐT. Bởi vậy dù tốn kém bao nhiêu, họ cũng phải lao theo. Có những người nghèo, lâm vào cảnh bị xử oan sai, phải bỏ bê công việc làm ăn, vay mượn tiền bạc lặn lội ra tới Hà Nội để kêu oan. 

Thế nhưng, những cuộc hành trình xin GĐT đó chẳng khác nào “mò kim đáy bể”. Rốt cuộc họ không kêu oan được lại còn lâm vào cảnh khốn cùng vì nợ nần chồng chất. 

Một số luật sư tâm sự với tôi rằng có nhiều người dân đến khóc lóc khẩn cầu giúp đỡ, xem xét việc làm đơn xin GĐT một bản án đã xử hết sức oan sai và vi phạm pháp luật. Việc đầu tiên luật sư nói với người dân là đó chẳng khác gì như “mò kim đáy bể”  trong tình hình có quá nhiều đơn khiếu nại án oan sai tại TANDTC, VKSNDTC, UBND các cấp, Thủ tướng và các đại biểu Quốc hội (ĐBQH), các lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước.

Nhưng rồi cuối cùng luật sư cũng phải nhận đơn và thở dài: “Thôi thì “phước chủ may thầy”, luật sư chúng tôi sẽ cố gắng hết sức”. Rồi luật sư cặm cụi làm đơn, nhiều đêm mất ngủ trước những nghi án oan khiên, trước bức thành trì hết sức kiên cố của việc GĐT, chờ đợi mà vẫn “sao chưa thấy hồi âm”. Mà nếu có nhận được công văn trả lời thì chỉ vỏn vẹn một câu: “Chúng tôi có nhận được đơn xin cứu xét GĐT bản án của ông bà ngày..., sau khi nghiên cứu hồ sơ, chúng tôi thấy không có căn cứ để giải quyết theo yêu cầu của ông bà”.  

Thời điểm 2005 - 2006, số vụ việc yêu cầu được xét lại theo thủ tục GĐT ngày một tăng, trong khi số vụ việc được kháng nghị chỉ đạt tỷ lệ khoảng 3%, đã khiến nhiều người đi đến những hoài nghi: Vậy thực ra hoạt động xét xử của hai cấp tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã đạt chất lượng cao, mà con số chỉ có 3% trong tổng số gần 10.000 vụ xin GĐT của năm 2005 bị kháng nghị là một minh chứng?

Hay ngược lại, con số này đã phản ánh trung thực tình trạng yếu kém trong hoạt động giải quyết oan sai của cơ quan thẩm quyền? Những bức xúc đó của người dân đã khiến tôi luôn ấp ủ một lúc nào đó phải tìm cách giải mã cái thực trạng đáng buồn này.

Loạt bài gây tiếng vang

Đầu tháng 6/2006, sau khi đã chuẩn bị đầy đủ tư liệu do bạn đọc cung cấp, được sự động viên của một số bạn bè tâm huyết công tác trong và ngoài ngành pháp luật, đặc biệt là sự cộng tác nhiệt tình của một số luật sư, tôi đã thực hiện loạt bài “Thực trạng xin GĐT như mò kim đáy bể” đăng trên Báo PLVN. 

Loạt bài này dài 27 kỳ, kéo dài từ tháng 6/2006  đến tháng 9/2006, phản ánh những bất cập trong công tác xét xử và giải quyết đơn khiếu nại GĐT ở Việt Nam, như: “Vì sao chỉ có 3% vụ án kêu oan được kháng nghị?”; “Vì sao số vụ xin GĐT gia tăng?”; “Làm gì để giảm số vụ việc xin GĐT?”; “Phát hiện bản án oan và kháng nghị, hoạt động nào là trung tâm?”; “Cơ chế nào giám sát người có quyền kháng nghị theo thủ tục GĐT?”; “Giai đoạn tiền kháng nghị đang vận hành trong tư thế thiếu luật”; “Hai nông dân tốn gần 1 tỷ đồng để đi xin GĐT”; “Biết án xử sai vẫn không kháng nghị”; “Án dân sự xử, trả lời thế nào cũng được”; “Khi thẩm phán làm sai lệch hồ sơ vụ án”... 

Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, nếu vào thời điểm đó mà Ban Biên tập Báo PLVN không bản lĩnh thì khó có thể đăng được loạt bài đó vì nó đụng chạm đến toàn bộ hệ thống Toà án. Vì vậy, mỗi bài báo viết xong, tôi hồi hộp chờ bài viết của mình được lãnh đạo Ban Biên tập duyệt để “ra lò”.

Kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3... rồi đến kỳ thứ 27, “gãi” đúng vấn đề mà nhiều người dân đang bức xúc. Một số ĐBQH lúc đó rất quan tâm nên mỗi kỳ báo đăng lên, tôi lại nhận được sự chia sẻ của nhiều bạn đọc. Những tín hiệu đó đã giúp tôi tăng thêm lòng nhiệt huyết đối với công việc và hăng say viết lách.

Loạt bài “Thực trạng xin GĐT như mò kim đáy bể” đã kết thúc với sự đón nhận nhiệt tình của độc giả. Ngồi đọc lại những bài báo đã viết, thật tình tôi thấy phải nghiêng mình cảm phục trước sự kiên trì của những người dân trong hành trình đi tìm công lý. Đồng thời cũng hết sức cảm thương vì những nỗi mất mát mà họ đã phải khổ đau nếm trải trong suốt thời gian đi xin GĐT. 

 Cuốn sách “Giải mã Giám đốc thẩm” tập hợp các bài viết trong loạt bài “Thực trạng xin giám đốc thẩm như mò kim đáy bể” của nhà báo Đăng Bình.

Họ cũng đã giúp cho tôi nhận ra một điều: Tuy công lý có lúc không đến được bằng trang giấy, nhưng niềm tin về công lý bao giờ cũng có trong lòng của mỗi chúng ta. Vì vậy tôi vẫn mang niềm tin rằng có lúc vấn đề sẽ được những người có trách nhiệm quan tâm. 

Tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XI, nhiều ĐBQH đã nêu loạt bài “Thực trạng xin GĐT như mò kim đáy bể” để chất vấn Chánh án TAND Tối cao lúc bấy giờ. Năm 2007, loạt bài 27 kỳ đã được Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản thành quyển sách “Giải mã giám đốc thẩm” như để tiếp thêm niềm tin cho những người dân vẫn đang hành trình tìm công lý. 

Luôn nhớ về “bến cũ”

Nghề báo là nghề đặc biệt. Thước đo đối với người làm báo là những tác phẩm báo chí đọng lại với bạn đọc. Nhưng để có những tác phẩm báo chí đọng lại, người viết bài nhiều khi phải “ngụp lặn” trước vô vàn thông tin, sự kiện, vấn đề; để rồi lần tìm, chắt lọc những gì “nặng trĩu” tính báo chí cung cấp cho người đọc. 

Và để có những “nặng trĩu” ấy lại là những thách thức vô bờ bến cho người người làm báo, nếu tâm hồn biết thổn thức trước một điều gì để rồi thôi thúc cầm bút với điều thổn thức ấy.

Loạt bài “Thực trạng xin GĐT như mò kim đáy bể” dài 27 kỳ đăng trên Báo PLVN vào năm 2006 là thể loại báo chí chính luận - điều tra, có thể coi là hai tác phẩm báo chí mảng nội chính thành công nhất của tôi trong thời gian công tác ở Báo PLVN. Để viết một đề tài báo chí dài kỳ như thế, đòi hỏi nhà báo phải từng trải, thu thập được nhiều thông tin, chứng cứ, biết cách triển khai vấn đề một cách khoa học nhất, biết cách viết cuốn hút bạn đọc nhất. 

Nhà báo cũng không thể viết thành công loạt bài dài kỳ nếu thiếu sự hỗ trợ tích cực từ phía giới luật gia, luật sư. Đặc biệt khi triển khai đề tài, phải có được sự ủng hộ cũng như bản lĩnh của Ban Biên tập. Tôi may mắn được làm việc ở Báo PLVN, để có cơ hội viết và được đăng loạt bài chính luận, điều tra dài nhất đời viết báo của tôi: 27 kỳ, tức 27 số báo PLVN.

Cuộc đời là những chuyến đi. Nghề báo cũng vậy. Tôi đã từng nghĩ mình sẽ gắn bó mãi mãi với Báo PLVN, nhưng rồi có lúc cũng ra đi vì muốn thử thách bản thân. Thời gian thấm thoát thoi đưa, vậy là tôi cũng đã rời xa “cái nôi” PLVN gần 6 năm. Sau khi rời PLVN tháng 8/2014, tôi chuyển sang Báo Gia đình Việt Nam rồi giữ chức Phó Tổng Biên tập phụ trách miền Nam. Năm 2016 tôi rời Báo Gia đình Việt Nam sang Tạp chí Nhà Quản lý (nhaquanly.vn). 

Bây giờ, dù đang giữ chức Tổng Biên tập một cơ quan báo chí, tôi vẫn luôn nhớ về “bến cũ” PLVN, nơi tôi đã có một thời trai trẻ đầy kỷ niệm nghề báo, nơi tôi gắn bó lâu nhất trong nghề cầm bút. Tôi luôn coi Báo PLVN chính là “lò” đào tạo tay nghề viết báo của tôi, là “cái nôi” để tôi trưởng thành. Kỷ niệm 35 năm Báo PLVN, xin chúc Báo PLVN tiếp tục “chân cứng đá mềm” xây dựng thương hiệu PLVN càng uy tín hơn nữa.  

TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Đọc thêm