Xác định lãi suất trong giao dịch dân sự như thế nào?

(PLO) - Trong dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm, việc áp dụng pháp luật về lãi suất trong giao dịch dân sự đã được nêu ra khá cụ thể. Đây là nội dung được quan tâm vì liên quan đến nhiều giao dịch dân sự diễn ra trên thực tế.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Thỏa thuận lãi suất

Pháp luật về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản là tiền và trong giao dịch dân sự khác không phải là hợp đồng tín dụng (gọi chung là giao dịch dân sự) được hướng dẫn áp dụng tùy vào những trường hợp cụ thể.

Theo đó, giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 01/01/2006 (ngày Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 có hiệu lực) đến trước ngày 01/01/2017 (ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực) thì thỏa thuận về lãi suất phải phù hợp với quy định tại Điều 476 của BLDS năm 2005 và quy định tương ứng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam về mức lãi suất cơ bản có hiệu lực tại thời điểm xác lập giao dịch, thời điểm tính lãi suất, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.

Trong trường hợp thỏa thuận về lãi suất phù hợp với trần lãi suất quy định tại Điều 476 của BLDS năm 2005 và quy định tương ứng của NHNN Việt Nam về mức lãi suất cơ bản, thì tiền lãi được xác định theo thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố. 

Ví dụ, ngày 20/2/2013, A ký hợp đồng cho B vay 100 triệu đồng, thời hạn vay 3 tháng, lãi suất thỏa thuận là 1,1%/tháng tương ứng với lãi suất 13,2%/ năm. Mức lãi suất cho vay hai bên thỏa thuận không vượt quá 13,5%/năm phù hợp với Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của NHNN Việt Nam (quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm tương ứng với 0,75%/ tháng, tương ứng với mức 150% lãi suất cơ bản là 13,5%/năm).

Trường hợp thỏa thuận về lãi suất cao hơn 150% lãi suất cơ bản do NHNN Việt Nam công bố thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực, tiền lãi được xác định theo mức lãi suất bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố; tiền lãi đã trả được tính lại, số tiền lãi đã trả vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản được trừ vào tiền nợ gốc từ thời điểm trả lãi.

Giao dịch dân sự được giao kết từ ngày 01/01/2017 (ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực) thì thỏa thuận về lãi suất phải phù hợp với quy định tại Điều 468 của BLDS năm 2015. 

Trường hợp thỏa thuận về lãi suất phù hợp với trần lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của BLDS năm 2015 (không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay) thì tiền lãi được xác định theo thỏa thuận, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

Trường hợp thỏa thuận về lãi suất vượt quá mức trần lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của BLDS năm 2015 thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực, tiền lãi được xác định bằng 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác; tiền lãi đã trả được tính lại, số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất bằng 20%/năm của khoản tiền vay được trừ vào tiền nợ gốc từ thời điểm trả lãi. 

Trường hợp có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015 (10%/năm của khoản tiền vay) tại thời điểm trả nợ.

Áp dụng pháp luật để xác định lãi suất

Việc áp dụng pháp luật để xác định lãi suất đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01/01/2017 (ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực) được chia thành 3 trường hợp.

Thứ nhất, giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có thỏa thuận lãi suất phù hợp với quy định tại Điều 468 của BLDS năm 2015 (không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay) thì áp dụng quy định của BLDS năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS năm 2015.

Ví dụ, ngày 20/2/2016, A ký hợp đồng cho B vay 100 triệu đồng, thời hạn vay 36 tháng (03 năm), lãi suất thỏa thuận là 1,5%/tháng tương ứng với lãi suất 18%/năm; hợp đồng có hiệu lực và đang được hai bên thực hiện. Mức lãi suất cho vay hai bên thỏa thuận vượt quá 13,5%/năm (theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của NHNN Việt Nam quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm tương ứng với 0,75%/ tháng, tương ứng với mức 150% lãi suất cơ bản là 13,5%/năm) nhưng phù hợp với mức lãi suất quy định tại Điều 468 của BLDS năm 2015 (không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay). Trường hợp này, Tòa án áp dụng Điều 468 của BLDS năm 2015 để công nhận mức lãi suất 18%/ năm do các bên thỏa thuận.

Thứ hai, giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có thỏa thuận về lãi suất không phù hợp với quy định tại Điều 468 của BLDS năm 2015 (vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay) thì khi giải quyết tranh chấp, Tòa án áp dụng quy định của BLDS 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS 2005 để giải quyết, trừ trường hợp hợp đồng chưa được thực hiện mà các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung về lãi suất phù hợp với BLDS năm 2015 và để áp dụng quy định của BLDS năm 2015.

Như vậy, nếu A vay B khoản tiền tương tự ví dụ trên nhưng lãi suất thỏa thuận là 2%/tháng tương ứng với lãi suất 24%/năm, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì Tòa án áp dụng Điều 468 của BLDS năm 2015 để không công nhận mức lãi suất vượt quá (4%) mà chỉ công nhận mức lãi suất 20%/năm của khoản tiền vay (mức trần lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của BLDS năm 2015).

Thứ ba, giao dịch dân sự có thỏa thuận về lãi suất đã thực hiện xong trước ngày 01/01/2017 mà có tranh chấp thì áp dụng BLDS năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS năm 2005 để giải quyết.

Dự thảo Nghị quyết cũng nêu rõ, giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất thì lãi suất được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi suất và hướng dẫn tại Nghị quyết này.

Cùng chuyên mục
Đọc thêm