Con đường làm giàu từ quan lộ của Tổng đốc Phương - phú hào Sài Gòn sinh ra đã "ngậm thìa vàng"

(PLVN) - Trong tứ đại phú hào nức danh miền Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thì Tổng đốc Phương đứng thứ nhì. Ông không phải là phú hào tự thân vì khi sinh ra đã ở “vạch đích”. Đặc biệt, ông không làm giàu bằng con đường kinh doanh buôn bán như các phú hào khác cùng thời mà làm giàu bằng con đường quan lộ.

Dinh thự của gia đình Tổng đốc Phương ở quận 3 Sài Gòn xưa.

Dinh thự của gia đình Tổng đốc Phương ở quận 3 Sài Gòn xưa.

“Sinh ra đã ngậm thìa vàng”

Nhì Phương là tên gọi của Đỗ Hữu Phương (1841 - 1914) con trai đại địa chủ Nam Kỳ thời bấy giờ là Bá Hộ Khiêm. Ông sinh tại Chợ Đũi (Sài Gòn) gốc người Minh Hương. Nhờ người cha giàu có nên ngay khi mới sinh ra, ông Đỗ Hữu Phương thuộc vận mệnh sinh ra đã “ngậm thìa vàng”, cuộc sống nhung lụa giàu sang và nghiễm nhiên có trong tay cả một cơ ngơi, địa vị khủng mà hiếm địa chủ nào cùng thời có được.

Trong thời kỳ thực dân Pháp chưa vào chiếm đóng, gia đình ông Phương cai quản cả một vùng rộng lớn về phía bắc Sài Gòn. Từ đất cát, ruộng đồng, những mảnh vườn cây trái bạt ngàn cho đến hàng trăm những cửa hàng, nhà ở trong nội đô để cho tiểu thương thuê.

Không những gia sản ruộng vườn rộng lớn, bá hộ Khiêm - cha ông Phương còn được biết đến là một trong những người thức thời, khi biết làm ăn buôn bán với người ngoại quốc từ sớm. Từ việc mua bán các mặt hàng nông sản cho đến việc thôn tính các cơ sở kinh doanh tại Sài Gòn. Rồi sau này ông Phương kế nghiệp gia sản đó và đã phát triển ngày càng tăng lên, nhiều đến mức người ta còn nói vui rằng, nếu để một người ngồi đếm tiền của nhà ông Phương thì có lẽ ngồi đếm cả đời cũng không hết.

Bá hộ Khiêm dạy con khá nghiêm khắc, ông Phương được cha cho học tiếng Hán từ nhỏ, sau này biết thêm cả tiếng Pháp và là một thanh niên có tầm hiểu biết, giỏi ngoại ngữ, có kiến thức văn hóa, chứ không phải chỉ biết tiêu tiền như những công tử con nhà bá hộ khác. Vì vậy, ông Phương cưới được một người vợ xinh đẹp nết na, lại có gia đình quyền thế, là con một vị Lang trung Bộ Bình, chức quan khá lớn trong triều đình phong kiến nhà Nguyễn.

Hình ảnh Tổng đốc Phương trên con tem Đông Dương.  

Thời điểm sau khi lấy vợ cũng là lúc ông dần được mọi người gọi là Bá hộ Phương, khi ông sinh sống trong căn nhà lớn nhất nhì Sài Gòn. Hai vợ chồng ông thừa hưởng khối tài sản khổng lồ sau khi Bá hộ Khiêm qua đời. Gia đìnhh ông đã kết nối với các tiểu thương ở khắp nơi, xây dựng hệ thống buôn bán riêng biệt, chi phối một phần giao dịch thông thương ở Sài Gòn. 

Vợ ông Phương là người buôn bán và quản lý tài sản cực kỳ khéo léo. Với hệ thống mua bán kinh doanh lên đến hàng nghìn cơ sở, bà lo việc kết nối các tiểu thương, xây dựng hệ thống buôn bán riêng biệt. Ruộng đất cho các tá điền thuê lại và do đích thân bà quản lý về tô thuế. Thóc lúa thu về nhiều, nhờ các mối quan hệ, gia đình Đỗ Hữu Phương đã chi phối được một phần giao dịch thông thương tại các bến cảng Sài Gòn để bán lúa giá cao.

Ông gia nhập quốc tịch Pháp năm 1881, đưa các con sang Pháp du học, còn bản thân ông vẫn sinh sống tại Sài Gòn cho đến khi mất. Đám tang của ông, sách Sài Gòn năm xưa viết: “Đám tang của vị Tổng đốc được tổ chức rất trọng thể. Thi hài của ngài quàn nửa tháng mới chôn. Hàng ngày có hàng trăm khách viếng. Tang gia cho mổ trâu, bò, heo liên miên cúng và đãi khách. Để ghi công của Đỗ Hữu Phương, chính quyền Sài Gòn đã đặt tên đường Tổng đốc Phương (hiện là đường Châu Văn Liêm, quận 5). 

Gia đình ông có tám người con, năm trai ba gái. Năm người con trai của Đỗ Hữu Phương đều thành đạt nhưng sống và làm việc chủ yếu tại Pháp. Ba cô con gái đều được gả cho các gia đình danh giá tại Việt Nam. Hiện ở Việt Nam gia đình Đỗ Hữu Phương chỉ còn nhà thờ dòng tộc được đặt tại một hẻm nhỏ trên đường Điện Biên Phủ (quận 3).

Giàu lên bằng con đường quan lộ

Khác với những phú hào giàu lên bằng con đường làm ăn khá chân chính thì Tổng đốc Phương làm giàu nhờ con đường chính trị. Năm 1861, qua lời giới thiệu của cai tổng Đỗ Kiến Phước, ông Phương được người Pháp trọng dụng. Sài Gòn - Chợ Lớn thời đó được chia làm 20 hộ, Đỗ Hữu Phương được chính quyền cho làm hộ trưởng, rồi từ đó ngày một thăng tiến với nhiều chức vụ khác nhau. 

Những năm 1866-1868, Đỗ Hữu Phương chỉ huy hoạt động do thám phong trào chống đối Pháp và tham gia dẹp nhiều cuộc khởi nghĩa ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và lân cận. Ông hợp tác với người Pháp vây bắt một số thủ lĩnh quân nổi dậy chống Pháp như Trương Quyền, Phan Tôn, Phan Liêm, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân.

Cụ thể, theo sử cũ ghi lại thì Đỗ Hữu Phương tham gia nhiều trận cho người Pháp như đánh vào lực lượng Trương Quyền (con trai của Đại Nguyên soái Bình Tây Trương Định) tại Bà Điểm vào tháng 7/1866. Trận này quân Pháp thắng trận và truy đuổi Trương Quyền đến tận Bến Lức (Long An). Một trận khác là vào cuối năm 1866, Đỗ Hữu Phương cùng quân Pháp xuống Bến Tre chiêu dụ hai con trai của Chí sỹ yêu nước Phan Thanh Giản (Phan Tôn và Phan Liêm) đầu hàng.

Tháng 3/1868, Đỗ Hữu Phương xuống Rạch Giá (Kiên Giang) đàn áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực và bị thương nặng phải đưa về Sài Gòn chữa trị. Một mặt, Phương ra sức giúp người Pháp tiêu diệt các lực lượng khởi nghĩa song mặt khác, ông lại bí mật giúp một số nhân sỹ yêu nước. Điển hình là trường hợp của Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân (Thủ khoa Huân) chiến đấu bên các lãnh tụ nghĩa quân Trương Định, Âu Dương Lân…

Theo đó, năm 1864, Thủ khoa Huân bị Pháp bắt và kết án khổ sai, đày đi Cayenne (thuộc địa của Pháp tại Nam Mỹ). Ở tù được 5 năm, Thủ khoa Huân được Pháp ân xá nhờ Đỗ Hữu Phương bảo lãnh. Suốt 3 năm sau đó, Thủ khoa Huân đã bí mật liên lạc với các Hoa kiều trong Thiên Địa hội, mua vũ khí, đạn dược để chuẩn bị khởi nghĩa. Vụ việc vỡ lở, Thủ khoa Huân bị Pháp bắt, hành quyết. Tham gia bắt Nguyễn Hữu Huân cũng chính là Đỗ Hữu Phương, người từng bảo lãnh cho ông.

Có lẽ từ những mối quan hệ khá “đặc biệt” như thế, Đỗ Hữu Phương chiếm được cảm tình với nhiều giới từ chính quyền Pháp cho tới các thương gia người Hoa và cả các chí sỹ yêu nước. Với nhiều công trạng, ông Phương liên tục thăng tiến. Năm 1872, Đỗ Hữu Phương được chỉ định làm ủy viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn, rồi trở thành phụ tá Xã Tây Chợ Lớn cho Antony Landes. 

Đây chính là thời kỳ ông làm trung gian để giới thương gia người Hoa hối lộ các viên chức Pháp, qua đó kiếm về những món tiền kếch xù. Ông được Pháp thưởng Tam đẳng bội tinh; được triều đình Huế ban thưởng tới 2.223 mẫu ruộng và thăng Tổng đốc hàm nên từ đó được gọi là Tổng đốc Phương. 

Chồng làm quan, xây dựng các mối quan hệ còn vợ đứng đằng sau, nhờ các quan hệ này để làm giàu có lẽ là mô hình khá mới mẻ thời đó. Nhưng mô hình này đã tỏ ra hữu dụng khi nó giúp cho gia đình Đỗ Hữu Phương vươn lên đứng thứ nhì trong “Tứ đại phú hào” Sài Gòn xưa. 

Sau này, có lẽ ăn năn, sám hối, Đỗ Hữu Phương đã tham gia nhiều hoạt động từ thiện. Ông là một trong những người đề xướng và đã bỏ tiền ra xây trường Trường Collège de Jeunes Filles Indigènes vào năm 1915, tức Trường Nữ Trung học Sài Gòn, người dân thường gọi là trường Áo Tím, trường Gia Long (nay có tên là trường Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3). Ngoài ra, ông cũng bỏ nhiều tiền xây dựng cầu Ông Lớn tại Chợ Lớn, tu bổ rất nhiều chùa chiền, miếu mạo quanh vùng.

Cùng chuyên mục
Tết Đầu lúa của người Raglai và K’ho ở Bình Thuận

Tết Đầu lúa của người Raglai và K’ho ở Bình Thuận

(PLVN) - Tết Đầu lúa là tục lệ có từ rất lâu đời và gắn liền với tập tục trồng lúa trên nương rẫy của đồng bào Raglai và K’ho ở huyện Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận). Đây là dịp để đồng bào thể hiện sự tôn vinh và niềm tin đối với cây lúa mẹ trên rẫy, cầu cho cây lúa không bị quấy nhiễu, không bị sâu rầy để đơm bông trổ hạt, đem lại ấm no cho dân làng.
Đọc thêm