Đường ngoại sẽ "nuốt chửng" mía đường trong nước?

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) -  Diện tích giảm, năng suất giảm, sản lượng giảm, số hộ dân trồng mía giảm, số nhà máy chế biến cũng giảm... Sự thiếu hụt nguồn cung đường trong nước lại đang được nguồn đường nhập khẩu... bù đắp.

Đường cát nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu từ Thái Lan

Đường cát nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu từ Thái Lan

Chỉ đáp ứng 40% nhu cầu tiêu dùng

Theo Hiệp hội mía đường Việt Nam (VSSA), mặc dù Việt Nam đứng thứ tư tại Đông Nam Á (sau Thái Lan, Indonesia, Philippines) và thứ 15 trên thế giới về diện tích trồng mía, song ngành mía đường Việt Nam đang có xu hướng co giảm.

Diện tích trồng mía giảm từ hơn 274 nghìn ha trong vụ 2016-2017 xuống còn gần 151 nghìn ha hiện nay, tương đương mức giảm trên 45%. Năng suất giảm từ 64,8 tấn/ha xuống còn 61,5 tấn/ha trong cùng giai đoạn (5,1%).

Số hộ tham gia trồng mía giảm từ gần 219,5 nghìn hộ xuống ở mức khoảng 126.000 hộ hiện nay. Sụt giảm cũng thể hiện trong khâu chế biến: 38 nhà máy năm 2017 giảm còn 29 nhà máy hiện nay. Từ 2017 tới nay sản lượng đường giảm từ 1,24 triệu tấn xuống còn 0,77 triệu tấn, tương đương mức giảm 38%.

Ngược lại, lượng đường nhập khẩu (NK) vào Việt Nam ngày càng tăng. Lượng nhập năm 2020 tăng gần 340% so với năm 2019. Đường NK cả chính ngạch và nhập lậu chủ yếu có nguồn gốc từ Thái Lan, được nhập vào Việt Nam thông qua đường bộ từ Campuchia và Lào.

Theo ông Cao Anh Đương, quyền Chủ tịch VSSA, lượng cung trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 40% cầu tiêu dùng và được bù đắp bằng lượng NK. Trong giai đoạn 2017-2020, bình quân mỗi năm Việt Nam phải NK 1,2 - 1,8 triệu tấn đường.

Cạnh tranh không lại!

Theo lãnh đạo VSSA, có nhiều yếu tố khiến cho ngành mía đường suy giảm, trong đó có yếu tố quan trọng nhất là năng lực cạnh tranh của ngành còn thấp, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế khi các hàng rào về thuế quan được loại bỏ, cho phép đường NK với giá cạnh tranh đặc biệt từ Thái Lan được nhập vào Việt Nam.

Cụ thể, sản xuất trong nước hiện đang phải cạnh tranh khốc liệt với đường NK, đặc biệt kể từ khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), theo đó thuế NK đường vào Việt Nam giảm xuống còn 0-5% theo từng mặt hàng cụ thể bắt đầu từ 1/1/2020.

“Mặc dù Việt Nam đang áp dụng mức thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với đường nhập từ Thái Lan (47,64%), nhưng mức thuế này có thể sẽ tạo động lực cho việc mở rộng NK lậu - vấn nạn đã hình thành từ lâu nhưng đến nay chưa được giải quyết triệt để và trong tương lai xa không khuyến khích được ngành mía đường có những thay đổi đột phá nằm nâng cao lợi thế cạnh tranh...”, ông Cao Anh Đương, quyền Chủ tịch VSSA nhận định.

Đặc biệt, chi phí sản xuất, chế biến và quản lý sản xuất của ngành mía Việt Nam hiện cao hơn Thái Lan ở các mức tương ứng là 30%, 183,4% và 52,9%. Cùng với đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh mía đường và khả năng cạnh tranh của cây mía so với các cây trồng khác có sử dụng cùng nguồn quỹ đất đang có sự cách biệt.

Cụ thể, trong vụ 2019-2020, tại khu vực Miền Trung - Tây Nguyên, cây sắn, ngô, keo lai có hiệu quả kinh tế cao hơn so với cây mía khoảng từ 500-800% tính trên cùng một đơn vị diện tích đất. Tại khu vực Đông Nam Bộ, cây sắn và ngô vượt trội khoảng 1.000-3.000% về hiệu quả so với cây mía. Tại vùng Tây Nam bộ, cây lúa cho hiệu quả cao hơn cây mía khoảng 3.000 - 4.400%.

Theo ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia Forest Trends, điều đáng ngại chính là yếu tố nội tại của ngành mía đường.

Số liệu của VSSA cho thấy, người trồng mía, chủ yếu là các hộ gia đình (80,6%), đóng vai trò chủ đạo ở đầu chuỗi cung, cung phần lớn lượng mía nguyên liệu cho các nhà máy chế biến. Tuy nhiên, vai trò, vị thế và đặc biệt là lợi ích của hộ thu được từ việc tham gia chuỗi là nhỏ nhất so với các nhóm khác tham gia chuỗi (nhóm hộ trồng mía chỉ nhận được dưới 11% trong tổng lợi nhuận từ chuỗi, tiếp đến là các nhà máy đường, trong khi gần 44% lợi nhuận rơi vào khâu phân phối).

Không những thế, khâu thu mua mía nguyên liệu đang có sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà máy, thường là có sự cấu kết với các thương lái mía. Kết quả là các hợp đồng liên kết giữa hộ và các nhà máy bị phá vỡ, nguồn nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy không đảm bảo, tạo ra sự mất lòng tin giữa các bên tham gia liên kết...

“Các yếu tố cạnh tranh giữa ngành mía đường Việt Nam và ngành mía đường của các nước trong khu vực, giữa cây mía và các cây trồng khác cạnh tranh khác về nguồn đất sản xuất ở các vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam. Không nâng cao được lợi thế cạnh tranh trong tương lai có thể làm cho ngành sản xuất mía đường của Việt Nam khó khăn để tồn tại. Nếu điều này xảy ra, Việt Nam sẽ vào vị thế như Malaysia và Đài Loan (Trung Quốc), phụ thuộc hoàn toàn vào đường NK. Nếu Việt Nam cần ngành mía đường tồn tại và phát triển trong tương lai, ngành cần phải có những thay đổi vĩ mô, nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh…”, chuyên gia Forest Trends cảnh báo.

“Tính từ thời điểm Việt Nam xoá bỏ quy định về hạn ngạch và giảm thuế NK đường xuống mức thấp 5% theo Hiệp định ATIGA từ ngày 1/1/2020, sản xuất, chế biến mía đường vụ 2019-2020 có sự tụt giảm sâu cả về diện tích, năng suất, sản lượng, số hộ tham gia trồng mía, nhà máy chế biến… Rõ ràng, ngành mía đường đã thiếu sự chuẩn bị kỹ càng trước khi mở cửa và điều này đã dẫn tới sự thất thế của ngành mía đường trong nước...”, Ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia Forest Trends

Cùng chuyên mục

Đọc thêm