Tr7 Báo giấy

Người cựu chiến binh nặng nghĩa đồng đội

 Cứ đến những ngày truyền thống, người cựu chiến binh tuổi xế chiều ấy lại lom khom đi khắp Nghĩa trang quốc tế Đô Lương để thắp những nén hương cho các phần mộ liệt sỹ. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những hành động và việc làm cao cả của người lính cụ Hồ ấy vẫn khiến bao người xúc động.

Cứ đến những ngày truyền thống, người cựu chiến binh tuổi xế chiều ấy lại lom khom đi khắp Nghĩa trang quốc tế Đô Lương để thắp những nén hương cho các phần mộ liệt sỹ. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những hành động và việc làm cao cả của người lính cụ Hồ ấy vẫn khiến bao người xúc động.

Tại căn nhà tạm ven quốc lộ 7 (Đô Lương, Nghệ An), cựu chiến binh (CCB) Trần Ánh Yên luôn bận bịu với công việc chăm sóc, vận chuyển cây cảnh. Với dáng người nhỏ nhắn, rắn rỏi, tuy đã bước qua tuổi 63 nhưng trông ông vẫn rất nhanh nhẹn và hoạt bát.

Bảo tàng kỷ vật kháng chiến

Nhập ngũ năm 1968, 2 năm là lính công binh của Đoàn 22 thuộc Quân khu 4, ông Yên từng tham gia mở đường, đào hào bảo vệ vùng biển Nghi Lộc, Cửa Lò (Nghệ An) chống sự xâm lấn của tàu chiến Mỹ. Sau này, ông Yên được biên chế vào Trung đoàn 271 rồi đi Thượng Lào chiến đấu trong môi trường núi rừng hiểm trở. 1 năm sau, ông trở về làm đường 9 - Khe Xanh. Trong Trung đoàn 271 anh hùng, ông là một trong những người sống và gắn bó lâu năm nhất - từ khi vào lính đến lúc xuất ngũ (1968-1989).

Ông về đoàn tụ cùng vợ con với quân hàm Đại úy và góp nhặt, dành dụm từng đồng để mỗi khi có dịp là về lại chiến trường xưa để nhặt nhạnh từng kỷ vật kháng chiến và tìm kiếm phần mộ đồng đội.

Những kỷ vật thời chiến
Những kỷ vật thời chiến

Thời bấy giờ, thanh niên trai tráng đều hăng hái đi bộ đội. “Trước khi ra đi, không ai dám nghĩ đến ngày về. Trong quân ngũ, tình đồng chí, đồng đội có khi còn thắm thiết hơn anh em ruột thịt. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi may mắn được sống sốt trở về và đem theo những kỷ vật đã theo mình vào sinh ra tử suốt những năm kháng chiến”. Nghĩ về đồng đội, trong những lần đi thăm lại chiến trường xưa, khi thấy những vật dụng của anh em, ông đều tìm cách mang về. Đến giờ, trong căn nhà tạm của ông đã có hàng chục kỷ vật chiến tranh.

Theo ông Yên, kỷ vật nào cũng quý, cũng gắn nhiều kỷ niệm. Như chiếc lưỡi cưa, lúc ở nhà nó quá bình thường nhưng với người lính lúc chiến đấu nơi rừng sâu thì đó là một dụng cụ quan trọng để dựng lán. Vì thế ông cất giữ các kỷ vật chiến trường rất cẩn thận.

Kỷ vật có ý nghĩa nhất đối với ông Yên có lẽ là chiếc đài radio. Lúc hành quân trên đường Trường Sơn, ngày đi đêm nghỉ mang hai cơ số đạn, ăn không đủ no, có chiếc đài của anh chính trị viên phát những bài ca kháng chiến, chương trình thời sự, tuy mệt nhưng vẫn cố gắng theo cho kịp chính trị viên để được nghe tiếng đài: “Điều đó rất có ý nghĩa động viên tinh thần anh em, chiến sỹ vừa chiến đấu vừa theo dõi tình hình xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Có những lúc đài mất sóng, anh em chúng tôi cứ lo bom Mĩ ném trúng đài phát thanh nhưng một lúc sau lại được nghe, anh em thêm phấn khởi”.

Vừa nói, ông vừa cho tôi xem và chỉ dẫn rõ công dụng và nguồn gốc xuất xứ của từng vật dụng thân thuộc với người lính, từ đơn giản như chiếc bật lửa, ghi đông, lưỡi cưa, đèn chiến đấu đến những phức tạp như ống nhòm, đồng hồ pháo binh, vỏ bom bi, hoặc bình dị như chiếc lược nhôm tự tay ông làm để tặng cho người yêu cũng là vợ mình...

“Tôi cóp nhặt, giữ lại những kỷ vật này cũng là để luôn nhớ đến một thời oanh liệt mà hào hùng của những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những vật dụng đơn giản nhưng đằng sau nó là biết bao câu chuyện cảm động của những người lính nơi chiến trường”. Những lúc đồng đội đến chơi, ông thường mang ra để cùng hàn huyên, nhắc lại một thời khói lửa mà hào hùng. Ông định sau này lúc gần tạ thế sẽ dành tặng toàn bộ những hiện vật của mình cho Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam.

1.031 phần mộ đồng đội

Đến thời điểm này, ông Yên và các đồng đội đã lập được danh sách 1.031 ngôi mộ liệt sỹ của Trung đoàn 271, Sư đoàn 302 hy sinh từ năm 1972 đến năm 1977 tại những chiến trường nơi ông đã từng công tác và chiến đấu gồm tên tuổi, quê quán, chức vụ, ngày hy sinh, nơi yên nghỉ... Nhiều thân nhân liệt sỹ đã không khỏi xúc động khi được ông cung cấp thông tin tận tình, chi tiết.

Ông Yên và danh sách 1.031 phần mộ đồng đội liệt sỹ
Ông Yên và danh sách 1.031 phần mộ đồng đội liệt sỹ

Khi có dịp về địa phương nọ nơi mình từng chiến đấu, ông cố nhớ lại xem tại đó có bao nhiêu đồng đội đã ngã xuống để hỏi thông tin từ người dân. Cứ như vậy, càng ngày danh sách thông tin phần mộ liệt sỹ đồng đội của ông càng dài. Sau ngày giải phóng, ông không nhớ rõ đã bao nhiêu lần về thăm lại chiến trường xưa để tìm phần mộ đồng đội, nhưng mọi khoản kinh phí đi lại đều do riêng cá nhân ông cùng đội đội tự bỏ ra chứ không xin tài trợ từ cá nhân, tổ chức nào.

Ông Yên bộc bạch: “Đối với những người như tôi, được trở về đã là may mắn. Bao đồng đội của mình đã về với đất, bỏ lại đằng sau mẹ già, em nhỏ... để mình có được cuộc sống ngày hôm nay. Như mắc nợ, tìm lại tên cho đồng đội là việc làm để tôi và đồng đội có thể thay lời tri ân với những người đã ngã xuống.”.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Trung đoàn 271 tổng kết có khoảng 1.600 chiến sỹ hi sinh, ngoài danh sách thông tin phần mộ liệt sỹ đã có thì vẫn còn hơn 500 liệt sỹ chưa tìm được phần mộ. Trong thời gian tới, ông dự định sẽ cùng đồng đội đi tìm được thông tin của những ngôi mộ liệt sỹ còn lại và làm một chiếc tủ trưng bày, ghi rõ tên và nguồn gốc của từng hiện vật mà ông đang có.

Hiện giờ, ông đã là chủ của một vườn hoa cây cảnh bạc tỷ nằm ven đường quốc lộ 7, thị trấn Đô Lương với sự giúp sức của người con trai cả. Người con trai út của ông cũng đã tốt nghiệp đại học và đang làm việc tại Đà Nẵng.

Hơn 20 năm trong sống và chiến đấu trong quân đội, ông Trần Ánh Yên được Đảng và Nhà nước tặng nhiều Huân, Huy chương cao quý như Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước Hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang, Huân chương Chiến công... và Huân chương Bảo vệ Tổ quốc do Nhà nước Campuchia tặng (1979-1999).

Duy Ngợi  

Cùng chuyên mục

Đọc thêm