Quốc hội thông qua Luật Đặc xá (sửa đổi)

(PLO) - Chiều nay (19/11), với 451/456 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết bỏ phiếu tán thành (chiếm 92,99% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội đã thông qua Luật Đặc xá (sửa đổi).

Quốc hội thông qua Luật Đặc xá (sửa đổi) với 92,99% tổng số đại biểu Quốc hội tán thành.

Quốc hội thông qua Luật Đặc xá (sửa đổi) với 92,99% tổng số đại biểu Quốc hội tán thành.

10 năm qua chỉ có 14 người được đặc xá thuộc trường hợp đặc biệt 

Trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội về dự thảo Luật Đặc xá (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga cho biết, về đặc xá trong trường hợp đặc biệt được quy định tại các điều 22, 23 và 24 dự thảo Luật, có ý kiến cho rằng quy định đối tượng được đề nghị đặc xá như quy định dự thảo Luật là quá rộng, dễ bị lạm dụng; chỉ nên xét đối với một số đối tượng được hoãn thi hành án thuộc trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo. 

Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể về tiêu chí xác định thế nào là “trường hợp đặc biệt” nhằm bảo đảm tính minh bạch và thống nhất trong tổ chức thực hiện. Có ý kiến đề nghị chỉ quy định đặc xá trong trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu đối ngoại của Nhà nước. Có ý kiến đề nghị không mở rộng đặc xá đối với người thuộc diện được hoãn chấp hành hình phạt tù, người đang được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cho hay, Báo cáo tổng kết Luật Đặc xá trong 10 năm qua chỉ có 14 người được đặc xá thuộc trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu đối nội, đối ngoại của Nhà nước và quá trình thực hiện được tiến hành chặt chẽ, không phát sinh vướng mắc. 

Do đó, UBTVQH đề nghị cho giữ như dự thảo Luật, tiếp tục giao cho Chủ tịch nước quyền chủ động quyết định. Đồng thời, tiếp thu ý kiến của ĐBQH, dự thảo Luật được chỉnh lý theo hướng không mở rộng đối tượng đặc xá trong trường hợp đặc biệt đối với người đang được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện nhằm bảo đảm phù hợp với tính chất của đặc xá.

Luật Đặc xá (sửa đổi) gồm 6 chương, 39 điều; quy định về nguyên tắc, thời điểm, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện đặc xá; điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá; quyền và nghĩa vụ của người được đặc xá.

Luật áp dụng với người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân; cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; người nước ngoài cư trú ở Việt Nam, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có liên quan đến hoạt động đặc xá. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019.

Chương III: ĐẶC XÁ TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

Điều 22. Người được đặc xá trong trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước, Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người đang được hoãn chấp hành án phạt tù, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người đang chấp hành án phạt tù chung thân mà không phụ thuộc vào các điều kiện quy định tại Điều 11 và Điều 12 của Luật này. 

Điều 23. Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đặc xá trong trường hợp đặc biệt

1. Theo yêu cầu của Chủ tịch nước hoặc trong trường hợp Chính phủ đề nghị đặc xá được Chủ tịch nước chấp nhận, Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan lập hồ sơ đề nghị đặc xá trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ Công an chịu trách nhiệm lập hồ sơ của người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân báo cáo Chính phủ để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. 

Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm lập hồ sơ của người đang được hoãn chấp hành án phạt tù, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù gửi Chính phủ để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

3. Văn phòng Chủ tịch nước rà soát, kiểm tra hồ sơ của người được đề nghị đặc xá trình Chủ tịch nước quyết định.

Điều 24. Thực hiện Quyết định đặc xá trong trường hợp đặc biệt 

1. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện Quyết định đặc xá trong trường hợp đặc biệt.

2. Việc thực hiện Quyết định đặc xá đối với người nước ngoài trong trường hợp đặc biệt được áp dụng theo quy định tại Điều 19 của Luật này.

3. Người được đặc xá trong trường hợp đặc biệt có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 20 của Luật này.

(Luật Đặc xá (sửa đổi))

TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Đọc thêm