Quấy rối tình dục đồng nghiệp tại nơi làm việc: Coi chừng mất việc

(PLVN) - Một trong những điểm mới tại Bộ luật Lao động 2019 là đã có những quy định cụ thể về quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Nghị định 145/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết một số điều luật của Bộ luật Lao động (có hiệu lực từ  2/1/2021) tiếp tục đề cập cụ thể hơn về lĩnh vực này.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Quấy rối tình dục có thể bằng lời nói hoặc phi lời nói 

Theo khoản 3 Điều 8 của Bộ luật Lao động 2019 (BLLĐ) thì quấy rối tình dục (QRTD)  tại nơi 

làm việc là một trong những hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động. Nội quy lao động của bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải đưa nội dung này vào. 

Về chế tài kỷ luật, Khoản 2 Điều 125, BLLĐ quy định một số hành vi vi phạm sẽ bị áp dụng  hình thức “sa thải”, trong đó có trường hợp người lao động có hành vi QRTD tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động.

Theo Điều 84 Nghị định 145/2020, QRTD nơi làm việc có thể xảy ra dưới dạng trao đổi như: đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi quan hệ tình dục lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc. QRTD nơi làm việc còn là những hành vi có tính chất tình dục không nhằm mục đích trao đổi nhưng khiến môi trường làm việc trở nên khó chịu và bất an, gây tổn hại về thể chất, tinh thần, hiệu quả công việc và cuộc sống của người bị quấy rối.

QRTD tại nơi làm việc bao gồm: Hành vi mang tính thể chất gồm hành động, cử chỉ, tiếp xúc, tác động vào cơ thể mang tính tình dục hoặc gợi ý tình dục; QRTD bằng lời nói gồm lời nói trực tiếp, qua điện thoại hoặc qua phương tiện điện tử có nội dung tình dục hoặc có ngụ ý tình dục; QRTD phi lời nói gồm ngôn ngữ cơ thể; trưng bày, miêu tả tài liệu trực quan về tình dục hoặc liên quan đến hoạt động tình dục trực tiếp hoặc qua phương tiện điện tử.

Nơi đi công tác cũng được coi là địa điểm làm việc

Cũng theo Điều 84, nơi làm việc là bất cứ địa điểm nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động, bao gồm cả những địa điểm hay không gian có liên quan đến công việc như các hoạt động xã hội, hội thảo, tập huấn, chuyến đi công tác chính thức, bữa ăn, hội thoại trên điện thoại, các hoạt động giao tiếp qua phương tiện điện tử, phương tiện đi lại do người sử dụng lao động bố trí từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại, nơi ở do người sử dụng lao động cung cấp và địa điểm khác do người sử dụng lao động quy định.

Nghị định 145 quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động (NSDLĐ) trong phòng, chống QRTD tại nơi làm việc. Cụ thể, NSDLĐ phải thực hiện và giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống QRTD tại nơi làm việc; Tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và quy định về phòng, chống QRTD tại nơi làm việc cho người lao động; Khi xuất hiện khiếu nại, tố cáo về hành vi QRTD tại nơi làm việc, NSDLĐ phải kịp thời ngăn chặn, xử lý và có biện pháp bảo vệ bí mật, danh dự, uy tín, nhân phẩm, an toàn cho nạn nhân bị QRTD, người khiếu nại, tố cáo và người bị khiếu nại, bị tố cáo. 

Đối với người lao động phải có nghĩa vụ: Thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống QRTD tại nơi làm việc; Tham gia xây dựng môi trường làm việc không có QRTD; Ngăn cản, tố cáo hành vi QRTD tại nơi làm việc. Ngoài ra, tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở có trách nhiệm: Tham gia xây dựng, thực hiện, giám sát việc thực hiện các quy định về phòng, chống QRTD tại nơi làm việc; Cung cấp thông tin, tư vấn và đại diện cho người lao động bị QRTD, người lao động đang bị khiếu nại, bị tố cáo có hành vi QRTD; Tuyên truyền, phổ biến, tập huấn quy định về phòng, chống QRTD tại nơi làm việc.

Nghị định 145 cũng khuyến khích NSDLĐ và tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở lựa chọn nội dung về phòng, chống QRTD tại nơi làm việc để tiến hành thương lượng tập thể. 

Điều 35 BLLĐ 2019 bổ sung quy định bảo vệ quyền lợi tối đa cho người lao động. Theo đó,  người lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần báo trước nếu bị QRTD tại nơi làm việc.
Cùng chuyên mục
Người dân có được thỏa thuận về giá bồi thường đất?

Người dân có được thỏa thuận về giá bồi thường đất?

(PLVN) - Luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho biết, theo quy định, trong một số trường hợp cụ thể thì người dân có đất thuộc dự án bị thu hồi có thể được thỏa thuận với chủ đầu tư để thống nhất về giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ), cho thuê QSDĐ hoặc góp vốn bằng QSDĐ. 
Đọc thêm