Cuộc gặp gỡ giữa Kinh Kim Cương và tư tưởng của Đại thi hào Nguyễn Du (kỳ cuối)

(PLVN) - Nguyễn Du đã thực sự thấu cảm, thực sự sống trong đời sống với tâm thế của một vị thiền giả, hành trì Kinh Kim Cương. Phải sống, phải thực chứng và trải nghiệm mới có thể chắt lọc và đồng cảm sâu sắc đến thế, tận cùng đến thế với những nỗi khổ của “ngã”, “nhân”, “chúng sinh” và “thọ giả”.

Một bức tranh Kiều của họa sĩ Ngọc Mai.

Một bức tranh Kiều của họa sĩ Ngọc Mai.

* Cuộc gặp gỡ giữa Kinh Kim Cương và tư tưởng của Đại thi hào Nguyễn Du (kỳ 2)

* Cuộc gặp gỡ giữa Kinh Kim Cương và tư tưởng của Đại thi hào Nguyễn Du (kỳ 1)

Bản kinh vô tự không phải để nhận thức mà phải biến nhận thức thành cuộc sống. Lời kinh giúp ta nhận thức được chân lý chứ bản thân nó không phải chân lý. Chiếc bè, giúp người vượt qua dòng sông cuộc đời, cũng như chân lý, không phải chỉ để nhận thức mà là để sống, để thể nhập và chứng nghiệm. Qua sông, đến bè cũng nên bỏ lại. Đó là những gì Đức Phật từng dạy. 

Cũng như sư Giác Duyên đợi nàng Kiều trải đủ mọi trầm luân trong vô thường, trong khổ, với những đau đáu phận người. Đến khi duyên lành hội đủ, sư đã đợi sẵn, chuẩn bị một bè lau. Bè lau ấy cũng chính là biểu hiện của nhân duyên hội đủ để cứu vớt cuộc đời đã trải qua đủ mọi bể dâu, trôi lăn trong dòng sinh tử, phú quý vinh hoa từng trải, đắng cay khổ nhục từng qua...

Hình ảnh chia tay của sư và nàng Kiều là một hình ảnh đẹp: "Giác Duyên từ tiết giã nàng/ Đeo bầu quảy níp rộng đường vân du." 

Nếu đọc giai thoại cha ông, chúng ta sẽ bắt gặp một câu chuyện thật dễ thương về cái “Níp Kim Cương” của các vị tu hành và anh học trò nghèo. Níp ở đây là túi đựng, với người học trò thì níp ấy dùng để đựng kinh thư. Với hành giả tu thiền, níp dùng để đựng kinh. Níp nói chung, dùng để đựng những thứ gọi là tư lương. 

Tư lương tức là lương thực. Theo thiền sư Nhất Hạnh, đối với một người tu thiền,“Kinh Kim Cương là một thứ tư lương mà chúng ta mang theo để có thể thành công trong chuyến đi tìm chính mình; đi tìm chính bản thân ta. Ngày xưa, có những hành giả đi từ núi này sang núi khác, từ tỉnh này sang tỉnh khác tìm đạo. Những hành giả đó mang một đôi giày rất cũ, chiếc áo thì bạc màu. Họ không bằng lòng với sự sống tiện nghi ở trong chùa.

Ngày nào cũng được ăn sáng, ăn trưa và ăn chiều, có phòng riêng, có phòng tắm, có cầu tiêu, có đủ thứ, nhưng họ không bằng lòng với những thứ đó. Họ muốn đi tìm cái gì quan trọng cho đời họ, vì vậy họ trở thành một vị du tăng, vân thủy. Vân thủy là danh từ Phật học, danh từ thiền. Vân là mây, thủy là nước.

Chỉ vì muốn đi tìm cái quan trọng nhất cho nên mình đã trở thành một người vân thủy. Vân thủy là ông thầy tu đi tìm đạo. Cái áo nâu bạc phếch, cái nón lá tả tơi, đôi dép đã cũ mòn, nhưng trong cái túi mà ông mang theo đôi khi lòi ra một mẩu bìa và người ta đọc được: Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh.

 Kinh Kim Cương. 

Nhiều vị vân thủy ngày xưa thường đem theo cuốn Kinh Kim Cương. Kinh Kim Cương là tư lương của họ, đi tới đâu xin ăn chỗ đó và dùng cuốn Kinh Kim Cương làm cái cuốc để đào lên giếng nước thơm trong ở trong trái tim của mình mà đạt tới sự giác ngộ. Ngày xưa có những bậc du tăng như thế, họ tự gọi họ là vân thủy, là mây là nước. Mây nước thì không dừng lại ở bất cứ chỗ nào, không bị trói buộc bởi những tiện nghi hàng ngày. Cũng vì lý do đó mà Kinh Kim Cương có một địa vị rất quan trọng trong truyền thống thiền.” 

Hình ảnh Giác Duyên với cái níp Kim Cương vân du và kết một bè lau để cứu nàng Kiều là một hình ảnh của một hành giả đã sống trong cuộc đời với đầy đủ những trầm luân và giữ một chữ Hiếu trong lắng, tròn đầy: “Như nàng lấy hiếu làm trinh/ Bụi nào cho đục được mình ấy vay”. Vậy nên: "Thiện căn ở tại lòng ta,/ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Chữ “Tâm” này rất quan trọng. Nó được nhắc lại nhiều lần trong Truyện Kiều và các tác phẩm khác của Nguyễn Du. Chúng ta cũng hãy cùng đọc lại lời đạo cô Tam Hợp: Sư rằng: 'Phúc họa đạo trời/ 'Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra."

Và cụ Nguyễn Du cũng nhắc lại chữ Tâm (ý muốn, tấm lòng) ở bài Phân kinh thạch đài: "Nhân liễu thử tâm nhân tự độ,/ Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu." Dịch: "Người tỏ tâm này người tự độ,/ Linh sơn chỉ tại tấm lòng ngươi.

Câu thơ này khiến chúng ta nhớ đến lời của quốc sư Phù Vân nói với vua Trần Thái Tông khi ngài lên núi muốn quyết chí xuất gia học đạo: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật.”  

Và lời vua Trần Thái Tông khi đã giác ngộ: “Trẫm nghe bản tánh lắng mầu, chân tâm trong lặng, tròn khuyết đều dứt”, như vậy, bản tính lắng yên, chân tâm trong lặng thì Phật tính hiển lộ. Vấn đề không phải ở nơi xuất gia hay tại gia mà cốt lõi ở việc xử lý tâm, làm sao để trở về với bản tâm thanh tịnh vốn có của mỗi người mới là điều quan trọng nhất, cũng là “trọng yếu tính Kim Cương”.

Như vậy, từ Trần Thái Tông đến tư tưởng của Nguyễn Du, hai nhân cách lớn của dân tộc Việt, xuyên suốt là tư tưởng của một hành giả tu tập thiền và lấy Kinh Kim Cương làm sự nghiệp. Với “mãn cảnh giai không hà hữu tướng, thử tâm thường định bất ly thiền” và sự giác ngộ: “Chung tri vô tự thị chân kinh”, lý đốn ngộ đã rõ. Nhưng hơn thế, chúng ta đã thực sự được thấy sự tiệm tu và thực chứng của Nguyễn Du với ý muốn và tấm lòng của nhân vật trong từng trường đoạn bể dâu của Truyện Kiều. Thấu đáo được như lời của Mộng Liên Đường nhận xét: “Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy...” 

Những dòng thơ cuối cùng trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: "“Thiện căn ở tại lòng ta,/ Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài. Lời quê chắp nhặt dông dài,/ Mua vui cũng được một vài trống canh.”

Cụ lại một lần nữa khẳng định về cái gốc rễ của tính thiện, của Phật tính là ở tại nơi lòng người. Bằng cách nói rất mực khiêm cung, Nguyễn Du đã chia sẻ Truyện Kiều mà cụ vừa viết ra là những: “Lời quê chắp nhặt dông dài”.. Lời quê cũng như cách sử dụng chữ Nôm cho Truyện Kiều chính là một tâm thức hướng tới số đông, hướng tới tất cả mọi người chứ không riêng gì giới trí thức trong xã hội. Không những thế, lời quê ấy lại còn được “chắp nhặt” và “dông dài”.

Là thi sĩ tự khiêm cung hay chính là tâm thái vô chấp của một thiền sư? Và kết thúc một tác phẩm vĩ đại với hơn ba ngàn câu thơ, câu nào cũng chứa đựng tài hoa, trăn trở, đau đáu xót xa trước bể dâu và phận người chìm nổi là một sự buông xuống nhẹ nhàng. 

Những sẻ chia từ tấm lòng của một nhân cách lớn với tình thương lớn ấy, với Nguyễn Du, cũng chỉ là để: “Mua vui cũng được một vài trống canh”. Vị thiền sư – thi sĩ ấy, cho đến cuối cuộc đời mình cũng đã ra đi rất an nhiên. Ghi chép trong sách Chính biên Liệt truyện: “Khi Nguyễn Du phải bệnh nặng, ông không chịu uống thuốc. Lúc gần mất, sai người sờ tay chân xem còn nóng hay lạnh. Người nhà nói đã lạnh cả rồi. Ông nói rằng: “Được!”. Nói xong thì mất, không một lời nào dặn dò đến việc sau”.

Nguyễn Du như vậy đã đón nhận cái chết với một tâm thế hoàn toàn sáng suốt, bình thản. Sự an nhiên ấy và con mắt trạch pháp, trông thấu sáu cõi  ấy cố nhiên, chính là con mắt của một hành giả, một thiền sư thể nhập được không tính và áo nghĩa Kinh Kim Cương theo tính truyền thừa.

Cùng chuyên mục
Hoàng Tăng Bí – Vị Phó bảng cả cuộc đời yêu nước thương dân

Hoàng Tăng Bí – Vị Phó bảng cả cuộc đời yêu nước thương dân

(PLVN) - Cụ Hoàng Tăng Bí (1883-1939), quê ở làng Đông Ngạc, phủ Hoài Đức (nay là phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội). Cụ đã góp phần quan trọng vào việc sáng lập trường Đông kinh Nghĩa thục, tổ chức hoạt động phong trào duy tân ở Hà Nội đầu thế kỷ XX, đổi mới và hội nhập văn hoá thế giới trên cơ sở giữ vững quốc hồn dân tộc, chấn hưng kinh tế làm cho dân giàu nước mạnh...
Đọc thêm