Hoạt động tư pháp phải đặt người dân vào vị trí trung tâm

(PLVN) - Đó là một trong những đề xuất của Ban cán sự đảng TANDTC về một số quan điểm, nhiệm vụ cải cách tư pháp giai đoạn hậu 2020 được Phó Chánh án TANDTC Lê Hồng Quang trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sáng nay (27/1).
Phó Chánh án TANDTC Lê Hồng Quang trình bày tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sáng 27/1.

Bài tham luận chỉ rõ, thực tiễn công cuộc đổi mới, phát triển của đất nước cho thấy bên cạnh những thuận lợi, thời cơ còn có những khó khăn, thách thức đặt ra cho nền tư pháp nước nhà phải giải quyết đó là nền tư pháp nước ta đang lạc hậu so với mặt bằng chung của thế giới cả về thể chế, tổ chức bộ máy, năng lực, trình độ và điều kiện bảo đảm.

Đang tồn tại mâu thuẫn lớn giữa sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng công việc Tòa án phải thực hiện với yêu cầu tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy cơ quan tư pháp; giữa việc thực hiện chế độ, chính sách theo quy định hiện hành với việc đẩy mạnh cải cách tư pháp, thu hút nhân tài, tránh chảy máu chất xám trong hệ thống tư pháp.

Yêu cầu của Đảng, của Nhân dân đối với hoạt động tư pháp ngày càng cao, buộc cơ quan tư pháp phải không ngừng cố gắng để thật sự là chỗ dựa của người dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân; xứng đáng là nơi để Đảng và Nhân dân gửi trọn niềm tin.

Xu hướng gia tăng mạnh mẽ các loại tội phạm, tranh chấp, khiếu kiện nhất là tội phạm, tranh chấp phi truyền thống, các vụ việc có yếu tố nước ngoài, yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đòi hỏi hệ thống tư pháp phải cải cách để thích ứng và đảm bảo giữ vững mục tiêu phát triển chung của đất nước.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, internet vạn vật, dữ liệu lớn, công nghệ số đang tạo ra những đột phá trên nhiều lĩnh vực sẽ là cơ hội và thách thức đối với cơ quan tư pháp trong việc tận dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động; tăng cường công khai, minh bạch; hỗ trợ tích cực cho người dân tiếp cận công lý và giám sát hoạt động tư pháp.

Trước những khó khăn, thách thức đặt ra nói trên, cần phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp nhằm thích ứng tốt hơn với yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết trong tình hình mới. Đây cũng là xu thế tất yếu, là cơ sở quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền.

Cải cách tư pháp là để chúng ta có được nền tư pháp tiên tiến, hiện đại, phục vụ nhân dân, tăng cường niềm tin của giới đầu tư vào hệ thống pháp luật và tư pháp của Việt Nam qua đó thu hút nguồn vốn đầu tư, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đem lại sự phồn vinh cho đất nước.

Kế thừa thành quả của thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, căn cứ Kết luận số 84 của Bộ Chính trị về tổng kết Nghị quyết 49 trong đó xác định: nghiên cứu, xây dựng Nghị quyết của BCH Trung ương về chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, trong đó có nội dung về cải cách tư pháp, Ban cán sự đảng TAND tối cao đề xuất một số quan điểm, nhiệm vụ cải cách tư pháp giai đoạn hậu 2020.

Cụ thể là kiên định, nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, thống nhất và trực tiếp đối với cơ quan tư pháp.

Cải cách tư pháp vì sự phát triển của đất nước. Xác định cải cách tư pháp là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp và công tác phòng chống tham nhũng do Đảng lãnh đạo.

Xây dựng nền tư pháp vì Nhân dân phục vụ. Hoạt động tư pháp phải đặt người dân vào vị trí trung tâm. Tiếp tục đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động theo hướng đảm bảo trong sạch, tinh gọn, hiệu quả.

Hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân thông qua hoạt động tư pháp. Tiếp tục hoàn thiện chế định Hội thẩm nhân dân.

Hoàn thiện cơ chế giám sát đặc thù của cơ quan dân cử và Nhân dân đối với hoạt động tư pháp. Tận dụng sự phát triển của công nghệ thông tin hướng tới xây dựng Tòa án thông minh, Tòa án điện tử.

Đề cao vị trí, vai trò của cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong hệ thống chính trị; xác định đây là thiết chế độc lập; có cơ chế phù hợp đảm bảo độc lập tư pháp.

Kế thừa và phát huy kinh nghiệm cải cách tư pháp đã đạt được; tập trung giải quyết những nhiệm vụ cải cách chưa hoàn thành; tiếp thu những thành tựu khoa học pháp lý tiên tiến.

Xây dựng cơ chế phù hợp, hạn chế tác động từ những chủ thể khác đối với hoạt động tư pháp; thực hiện nghiêm nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

Đọc thêm