Khi các cặp đôi cùng dấu về 'chung nhà'

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) -  “Khi con nó lớn và với định kiến xã hội không biết có thay đổi hay không, hiện nó có gặp trở ngại gì khi mà có hai ông bố và không có một bà mẹ, đi học nó có gặp vấn đề gì không?”, đó là trăn trở của một người đồng tính nam tham gia phỏng vấn sâu tại Hà Nội, khi được hỏi về lo ngại nếu có con trong tương lai.

Các cặp đôi cùng dấu trong làng giải trí hạnh phúc khi “về chung một nhà”. (Ảnh minh họa)

Các cặp đôi cùng dấu trong làng giải trí hạnh phúc khi “về chung một nhà”. (Ảnh minh họa)

34,8% gặp khó khăn trong việc đại diện pháp lý cho con

Trước đó, một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (ISEE) về LGBT (tức người đồng tính - song tính - chuyển giới) cho thấy, 54,1% người tham gia khảo sát online cho biết họ đang trong một mối quan hệ cùng giới, các mối quan hệ này chủ yếu kéo dài 1-3 năm tính đến thời điểm hiện tại (44,4%). Độ dài của các mối quan hệ phần nào phụ thuộc vào độ tuổi, những người lớn tuổi hơn sẽ trải nghiệm tình yêu cùng giới lâu hơn. Nhiều cặp đôi đã bên nhau 6-10 năm và lâu hơn thế.

41,3% người khảo sát online đã hoặc đang chung sống với người yêu/bạn đời. Nhiều người quyết định chung sống khi họ cảm thấy đủ yêu thương và cam kết với người yêu của mình (80%). Lý do lớn thứ hai là họ hướng đến những bước tiến xa hơn trong mối quan hệ về cuộc sống nghiêm túc dài lâu (57,6%).

Tuy nhiên, bức tranh không chỉ có màu hồng, nhiều người khảo sát online cho biết họ đã hoặc đang trải qua hôn nhân khác giới do gia đình ép buộc, áp lực xã hội hoặc chấp nhận hôn nhân “bình phong” (62,8% trong số 94 người có trải nghiệm hôn nhân dị tính). Hơn nữa, có tới 46 người quyết định ly thân hoặc ly hôn, chủ yếu do hôn nhân không còn hạnh phúc (41,3%) và nhận ra sai lầm khi kết hôn mà không có tình yêu (54,3%). Bởi sức ép về hôn nhân dị tính vẫn còn nặng nề đối với cộng đồng LGBT, bất luận nhiều chương trình nói về quyền và sự hiện diện của người LGBT đã được thực hiện để thay đổi vấn đề này.

Đa phần người tham gia nhận định việc gia đình không ủng hộ là khó khăn lớn nhất (47,3%), tiếp đến là sự kỳ thị của xã hội với người LGBT (44,6%). Bên cạnh đó, việc thiếu quyền đăng ký kết hôn hợp pháp cũng gây ra không ít trở ngại cho cuộc sống lứa đôi (32,4%). Trong đó, quan hệ tài sản là vấn đề các cặp đôi lo ngại do có nhà đất chung, góp vốn đầu tư kinh doanh chung và sở hữu chung các tài sản có giá trị lớn (ô tô, sổ tiết kiệm, vàng).

Những vấn đề liên quan con cái cũng được các cặp đôi cùng giới quan tâm. Trong mẫu trả lời online, có 12 trường hợp nhận con nuôi, 16 trường hợp sống chung với con đẻ của bạn đời và 19 người cho biết họ có con riêng. 34,8% gặp khó khăn trong việc giám hộ và đại diện pháp lý cho con. Một số trở ngại khác có thể kể đến là đăng ký nhận nuôi con cùng bạn đời cùng giới tính, đăng ký tên bạn đời trên giấy khai sinh của con hay tiếp cận tinh trùng để thực hiện sinh con hợp pháp (với nữ). “Khi con nó lớn và với định kiến xã hội bây giờ nó có thay đổi hay không, nó có gặp trở ngại gì khi mà có hai ông bố và không có một bà mẹ hay không, đi học nó có gặp vấn đề gì không”, đó là trăn trở của một người đồng tính nam tham gia phỏng vấn sâu tại Hà Nội, khi được hỏi về lo ngại nếu có con trong tương lai.

Có thể thấy nhu cầu rất lớn của cộng đồng LGBT về việc công nhận và hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới. 89,2% cho biết họ mong muốn được quyền kết đôi dân sự, 99,8% muốn pháp luật công nhận bình đẳng như các cặp đôi dị tính. Bên cạnh quyền kết hôn, người LGBT cho rằng pháp luật nên cho phép cặp đôi cùng giới nhận con nuôi (96,1%) và nên có các hoạt động hỗ trợ sinh sản cho các cặp đôi đồng tính (95,5%).

“Sự hiện diện của tình yêu cùng giới là có thật, nó đang xảy ra. Họ đã và đang hiện thực hóa tình yêu cùng giới và sắp xếp cuộc sống chung tùy theo bối cảnh”, anh Vũ Thành Long, nghiên cứu viên cho biết. Dù có những cách thức sắp xếp cuộc sống và tương lai, họ đang trải nghiệm nhiều khó khăn từ gia đình, kỳ thị xã hội và sự không công nhận của pháp luật. Điều đó cho thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của việc vận động hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới tại Việt Nam, bởi mọi tình yêu đều bình đẳng, bất kể xu hướng tính dục và bản dạng giới nào.

Sẽ không còn những hệ lụy khi phải… cưới “nhầm”

Cuối năm 2021, ISEE và Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Việt Nam (VESS) đã Công bố kết quả nghiên cứu “Đánh giá tác động kinh tế của chính sách về hôn nhân cùng giới tại Việt Nam”. Ông Lương Thế Huy, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ISEE cho biết, đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam để nghiên cứu về vấn đề hôn nhân của người cùng giới nói riêng và vấn đề của người LGBT dưới góc độ tác động kinh tế của chính sách về hôn nhân cùng giới tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, những quyền cơ bản của họ vẫn chưa được công nhận, cụ thể là quyền được kết hôn cùng giới và các quyền khác thuộc chế định hôn nhân như quyền giám hộ, thừa kế, đại diện theo pháp luật, cho nhận con nuôi, công nhận con chung, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo…

Những tác động của việc công nhận hôn nhân cùng giới tại Việt Nam có thể đạt được là: Gia tăng quyền cho người LGBT. Cụ thể, theo định nghĩa, việc công nhận hôn nhân đồng giới làm gia tăng quyền cho nhóm người LGBT, từ đó gia tăng phúc lợi và phạm vi ra quyết định của họ.

Những tác động khác đạt được như: Giảm căng thẳng thiểu số; Giảm tình trạng kết hôn không phù hợp xu hướng tính dục. Góp phần củng cố chế độ hôn nhân gia đình của Việt Nam và thành tựu bình đẳng giới. Góp phần giải quyết các vấn đề về dân số. Cải thiện chất lượng hoạt động của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh, sản xuất. Tăng năng suất lao động cho người LGBT; Gia tăng doanh thu cho các ngành công nghiệp đã có; Là cơ sở cho sự ra đời của “khu vực kinh tế LGBT”; Cải thiện kết quả cạnh tranh quốc gia; Cải thiện năng suất lao động cho toàn xã hội…

Theo ước tính của báo cáo, việc hợp thức hoá hôn nhân cùng giới có thể mang lại cho Việt Nam từ 1,65% đến 4,36% gia tăng trong GDP mỗi năm so với trường hợp không công nhận. Trong ngắn và trung hạn, tỉ lệ gia tăng này có thể được dàn trải trong khoản 10 năm, vì người LGBT cần có thời gian để hồi phục những chấn thương tâm lý, xã hội Việt Nam cũng cần có thời gian để đưa ra thay đổi phù hợp. Vậy, tỉ lệ gia tăng bình quân GDP được mang lại bởi việc công nhận hôn nhân cùng giới trong ngắn hạn là từ 0,17% đến 0,44% một năm.

Nhóm nghiên cứu cũng ước lượng việc công nhận hôn nhân cùng giới cũng mang lại cho các ngành công nghiệp có liên quan đến tổ chức tiệc cưới và xây dựng gia đình gia tăng trong doanh thu từ 5,26% đến 4,36% so với trường hợp không công nhận. Việc công nhận hôn nhân đồng giới cũng giúp Việt Nam tiết kiệm được mỗi năm từ 13 triệu USD đến 71 triệu USD chi phí phát sinh từ những thiệt hại đến từ các rối loạn tâm lý (rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu) do vị thế thiểu số của người LGBT.

Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất chính sách: Triển khai chương trình thay đổi nhận thức ở cấp toàn quốc về sự thừa nhận người LGBT trong sự đa dạng của tồn tại con người và xã hội, là đối tượng đầy đủ của luật pháp và thiết chế xã hội.

Tiếp đến, điều chỉnh luật pháp để công nhận hôn nhân cùng giới với đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật như hôn nhân khác giới. Phấn đấu để Việt Nam là quốc gia đầu tiên tại Đông Nam Á và thứ hai tại châu Á công nhận hôn nhân cùng giới.

Hoàn thiện hoá quy định pháp luật về việc sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cho phép hình thức mang thai hộ có hiến tặng trứng hoặc tinh trùng và hiến tặng trứng hoặc tinh trùng nhưng không có mang thai hộ.

Ban hành luật chống phân biệt đối xử trên cơ sở bản dạng giới và xu hướng tính dục trong gia đình, nhà trường, nơi làm việc. Giới thiệu nội dung giáo dục về người LGBT vào chương trình học phổ thông dưới hình thức chính khoá hoặc ngoại khoá.

Tuyên truyền, giáo dục hướng đến toàn bộ xã hội, nhấn mạnh thông điệp rằng người LGBT là những thành viên bình đẳng, đầy đủ của xã hội.

Xây dựng sổ tay hướng dẫn xây dựng chính sách hỗ trợ và bầu không khí thân thiện đối với người LGBT cho các doanh nghiệp.

Theo nhóm nghiên cứu, pháp luật Việt Nam nên công nhận hôn nhân đồng giới càng sớm càng tốt, không chỉ bởi vì có ích cho nền kinh tế, mà còn bởi một lượng lớn trẻ mồ côi sẽ được nhận nuôi, có môi trường được nuôi dạy và phát triển. Một lượng lớn trai gái dị tính sẽ không phải lấy nhầm chồng (gay), vợ (les), vì xã hội, pháp luật không chấp nhận hôn nhân đồng giới. Khi mà những chàng gay, cô les chỉ có thể lấy vợ, gả chồng để ngụy trang bản thân, áp lực gia đình, xã hội, họ không còn sự lựa chọn nào khác, đồng nghĩa với những bi kịch không nguôi trong cuộc đời họ…

LGBT chiếm 9-11% dân số

Theo nghiên cứu “Đánh giá tác động kinh tế của chính sách về hôn nhân cùng giới tại Việt Nam”, ước lượng số LGBT tại Việt Nam chiếm từ 9% đến 11% tổng dân số. Cùng với sự phát triển của xã hội Việt Nam, LGBT ngày càng được nhìn nhận như những thành viên tự nhiên, bình đẳng và đầy đủ của xã hội. Sự hội nhập của nhóm người này có thể được nhìn nhận như một phần tất yếu và tự nhiên trong sự phát triển văn hóa - đạo đức của xã hội Việt Nam.

Cùng chuyên mục

Đọc thêm