Thương lượng bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) - Bạn đọc Nguyễn Hải Yến (Quảng Ninh) hỏi: Tôi muốn biết các quy định liên quan đến việc thương lượng trong công tác bồi thường tại Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) năm 2017?
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Luật sư Nguyễn Thị Trang - Đoàn Luật sư TP Hà Nội tư vấn: Điều 46 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về thương lượng việc bồi thường như sau:

1. Thời hạn thương lượng: Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành báo cáo xác minh thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường phải tiến hành thương lượng việc bồi thường. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tiến hành thương lượng, việc thương lượng phải được hoàn thành. Trường hợp vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng tối đa là 15 ngày.

Thời hạn thương lượng có thể được kéo dài theo thỏa thuận giữa người yêu cầu bồi thường và người giải quyết bồi thường nhưng tối đa là 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản này.

2. Việc thương lượng phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

- Người yêu cầu bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường đều bình đẳng trong quá trình thương lượng;

- Bảo đảm dân chủ, tôn trọng ý kiến của các thành phần tham gia thương lượng;

- Nội dung thương lượng, kết quả thương lượng về các thiệt hại được bồi thường, mức bồi thường phải phù hợp với quy định của Luật TNBTCNN.

3. Thành phần tham gia thương lượng việc bồi thường bao gồm:

- Đại diện lãnh đạo cơ quan giải quyết bồi thường chủ trì thương lượng việc bồi thường;

- Người giải quyết bồi thường;

- Người yêu cầu bồi thường, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật TNBTCNN (những người yêu cầu bồi thường này bao gồm: người bị thiệt hại; người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại; người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của BLDS) (nếu có);

- Đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về công tác bồi thường Nhà nước;

- Đại diện Viện kiểm sát có thẩm quyền trong trường hợp vụ việc yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự;

- Trường hợp cần thiết, cơ quan giải quyết bồi thường có thể mời đại diện cơ quan tài chính cùng cấp, cá nhân, tổ chức khác, yêu cầu người thi hành công vụ gây thiệt hại tham gia thương lượng.

4. Việc thương lượng được thực hiện tại một trong các địa điểm sau đây:

- Trường hợp người yêu cầu bồi thường là cá nhân thì địa điểm thương lượng là trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu bồi thường cư trú, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

- Trường hợp người yêu cầu bồi thường là tổ chức thì địa điểm thương lượng là trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đặt trụ sở của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

5. Nội dung thương lượng việc bồi thường bao gồm:

- Các loại thiệt hại được bồi thường;

- Số tiền bồi thường;

- Khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có);

- Phương thức chi trả tiền bồi thường;

- Các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường.

6. Trình tự tiến hành thương lượng: Việc thương lượng được thực hiện theo các bước sau đây:

- Người yêu cầu bồi thường trình bày ý kiến về yêu cầu bồi thường của mình và cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu bồi thường của mình (nếu có);

- Người giải quyết bồi thường công bố báo cáo xác minh thiệt hại;

- Người giải quyết bồi thường và người yêu cầu bồi thường trao đổi, thỏa thuận về các nội dung thương lượng quy định tại khoản 5 Điều 46 (bao gồm: các loại thiệt hại được bồi thường; số tiền bồi thường; khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có); phương thức chi trả tiền bồi thường; các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường);

- Đại diện cơ quan giải quyết bồi thường trình bày ý kiến; người thi hành công vụ gây thiệt hại trình bày ý kiến (nếu có); cá nhân, đại diện tổ chức khác phát biểu ý kiến theo yêu cầu của người chủ trì;

- Đại diện cơ quan tài chính nêu ý kiến về các loại thiệt hại, mức thiệt hại, số tiền bồi thường (nếu có);

- Đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về công tác bồi thường Nhà nước phát biểu ý kiến.

7. Lập biên bản thương lượng: Việc thương lượng phải được lập thành biên bản. Trường hợp các bên tiến hành thương lượng nhiều lần thì sau mỗi lần thương lượng đều phải lập biên bản.

Ngay sau khi kết thúc việc thương lượng, người giải quyết bồi thường phải lập biên bản kết quả thương lượng. Biên bản kết quả thương lượng phải ghi rõ những nội dung về: Các loại thiệt hại được bồi thường; số tiền bồi thường; khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có); phương thức chi trả tiền bồi thường; các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường.

Biên bản kết quả thương lượng phải xác định rõ việc thương lượng thành hoặc không thành. Biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu bồi thường, chữ ký của đại diện các cơ quan, người tham gia thương lượng và được giao cho mỗi người 01 bản tại buổi thương lượng.

8. Hậu quả pháp lý của việc thương lượng: Trường hợp thương lượng thành thì Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Luật TNBTCNN;

Trường hợp thương lượng không thành thì người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật TNBTCNN.

Đọc thêm