Việc hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội

(PLO) - Ngày 1/1/2014, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (sửa đổi) có hiệu lực. Xin trích giới thiệu bài viết “Việc hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội” của PGS.TS Nguyễn Viết Thông - Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương. 
Tại Kỳ họp thứ 6, ngày 28/11/2013, Quốc hội nước ta đã thông qua Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam  (sửa đổi), trong đó Điều 4 tiếp tục hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Việc hiến định đó dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng, chính xác. 
1. Về cơ sở lý luận: Việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là cần thiết, tất yếu, khách quan.
Quy định về đảng chính trị trong hiến pháp mang tính phổ biến. Đó là quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Chúng ta đều biết, ngày nay, đảng chính trị đã trở thành hiện tượng phổ biến trên thế giới, có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu trong quá trình chính trị và đời sống chính trị của hầu hết các nước. Gần như nước nào cũng có đảng phái chính trị. Hiến pháp của nhiều nước có những quy định về đảng chính trị. Khi đề cập đến các đảng chính trị, Hiến pháp của các nước cũng đề cập đến nguyên tắc, cách thức thành lập; cách thức tổ chức của đảng; nguyên tắc hoạt động của các đảng chính trị. Chẳng hạn, Điều 5, Hiến pháp của Trung Quốc quy định: “Tất cả các cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang, các đảng phái chính trị và đoàn thể xã hội; các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi của mọi tổ chức hoặc cá nhân đều không được vượt quá quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Điều 3, Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào quy định: “Các quyền của những người đa sắc tộc là người đứng đầu đất nước được thực hiện và đảm bảo thông qua các chức năng của hệ thống chính trị cùng với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào như là hạt nhân hàng đầu của mình”. 
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1980, năm 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có một điều quy định về Đảng Cộng sản Việt Nam, không phải là ngoại lệ, mà phù hợp với xu hướng phổ biến của thế giới hiện nay. 
Chế độ một đảng hay nhiều đảng do thực tiễn của mỗi nước, do đặc điểm từng giai đoạn quy định. Hiện nay, số lượng đảng chính trị ở mỗi nước rất đa dạng, tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa và đặc điểm xã hội của mỗi nước. Một số nước có nhiều đảng chính trị, như Hoa Kỳ có 112 đảng, Anh có 97 đảng, Tây Ban Nha có 87 đảng, Pháp có 76 đảng,… Nhưng cũng có nhiều nước chỉ có một đảng chính trị, như Cuba, Lào, Triều Tiên v.v… Ai cũng biết rằng, số lượng các đảng chính trị hoàn toàn không nói lên điều gì về mức độ dân chủ, tự do ở từng nước. Ở Hoa Kỳ có 112 đảng, nhưng chỉ có hai đảng Cộng hòa và Dân chủ thay nhau cầm quyền. Ở Trung Quốc, ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc còn có 8 đảng dân chủ. Tám đảng này đều thừa nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo nước CHND Trung Hoa. 
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, không tranh giành quyền lãnh đạo với ai. Trong hơn 80 năm qua, ở Việt Nam cũng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản còn có sự tồn tại của hai đảng đối lập (Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội); khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng đó cũng cuốn gói chạy theo. Có thời kỳ ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, tồn tại Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó hai đảng này đã tuyên bố tự giải tán và chỉ còn Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sản phẩm tự nhiên, mang tính khách quan của lịch sử đất nước. 
2. Về cơ sở thực tiễn: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tế tiến hành cách mạng và được nhân dân thừa nhận.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất là vào những bước ngoặt của lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, đưa sự nghiệp đó đến thắng lợi hoàn toàn. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp phát triển đất nước sau ngày 30/4/1975. 
Khi chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào khủng hoảng, các đảng cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu đã tiến hành cải tổ, cải cách nhưng không thành công; bị đổ vỡ, do đánh mất vai trò lãnh đạo của mình. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vào những năm 80 của thế kỷ XX, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 
Nhân dân ta ghi nhận bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được chứng minh trong lịch sử dân tộc, đặc biệt trong những giai đoạn khó khăn nhất của cách mạng, đã thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân che chở, xây dựng. Nhân dân Việt Nam trìu mến gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”. Bài học từ sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu còn nguyên giá trị. Từ khi chấp nhận bỏ Điều 6 Hiến pháp Liên Xô, đã dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả là Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ. Nhân dân Việt Nam nhận rõ hơn ai hết, nếu chấp nhận đa đảng, chế độ XHCN sẽ sụp đổ, đất nước sẽ rối loạn, thành quả mà nhân dân đã tốn biết bao xương máu mới giành được sẽ rơi vào tay các thế lực không trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận điều đó. 
Hiện nay, ở Việt Nam không có lực lượng chính trị nào đủ tư cách và năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tuyệt đại đa số nhân dân tin tưởng vào Đảng, đồng thời mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng cũng đang quyết tâm tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để “Đảng là đạo đức, là văn minh” theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. 
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung các quy định đúng đắn, hợp lý về Đảng.  Theo đó, Điều 4 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 
2. Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. 
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. 
So với Hiến pháp năm 1992, quy định về Đảng trong Hiến pháp năm 2013 có ba bổ sung, phát triển quan trọng.
Một là, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân mà đồng thời còn là đội tiên phong của Nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đây là nét sáng tạo độc đáo phù hợp với đặc điểm Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên thực tế, hơn 80 năm qua, Đảng ta ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích không chỉ của giai cấp công nhân mà còn vì lợi ích của Nhân dân lao động, của toàn dân tộc. Đảng ta không có lợi ích tự thân. 
Hai là, bổ sung quy định: “Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Sự bổ sung này quy định bản chất, trách nhiệm của Đảng đối với Nhân dân và có như vậy Đảng mới lãnh đạo được Nhà nước và xã hội. Một Đảng mà không gắn bó mật thiết với Nhân dân, không chịu sự giám sát của Nhân dân, không chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình thì không phải là một Đảng cách mạng chân chính, không thể lãnh đạo được Nhân dân. 
Ba là, khẳng định không chỉ các tổ chức của Đảng mà còn quy định thêm về việc tuân thủ, thi hành Hiến pháp và pháp luật đối với mọi đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng viên phải tự giác, gương mẫu thực hiện, chấp hành Hiến pháp và pháp luật. 
Có thể khẳng định rằng, việc bổ sung, phát triển Điều 4 trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 là hoàn toàn đúng đắn, chính xác, là ý Đảng, lòng dân, hợp quy luật. 
PGS.TS Nguyễn Viết Thông
Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương
TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Nghị quyết của UBTVQH về công tác nhân sự

Nghị quyết của UBTVQH về công tác nhân sự

(PLVN) - Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành các nghị quyết về việc miễn nhiệm, bổ nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Trưởng ban Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đọc thêm