Vẫn ấm lòng con bóng Bác về

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) - Trong bài hát “Bác Hồ một tình yêu bao la”, nhạc sĩ Thuận Yến đã viết: “Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng/Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương/Bác viết thư thăm hỏi gửi muôn vàn yêu thương...”. 
Vẫn ấm lòng con bóng Bác về ảnh 1
Ảnh minh họa 

Cũng từng là người lính nên nhạc sĩ Thuận Yến đã cảm nhận được tình yêu thương bao la của Bác dành cho những người chiến sĩ nơi mặt trận. Tình cảm đó luôn được những người lính trân trọng cho dù bao thời gian trôi qua… 

Tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam có trưng bày một kỷ vật là bức ảnh Bác Hồ và lời thề giữ chốt viết bằng máu của cựu chiến binh Lê Bá Dương. Đó là bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh đen trắng khổ nhỏ, để vừa trong một cuốn sổ. 

Điều đặc biệt ở bức ảnh là trên đó ghi những dòng quyết tâm thư giữ chốt đến cùng của những người lính Trung đoàn 27 Triệu Hải thuộc Sư đoàn 390, Quân đoàn 1 trong những phút cam go nhất trong trận đánh ở cao điểm 544 thuộc huyện Cam Lộ, Quảng Trị vào tháng 6/1971. 

Trong trận đánh đó, bốn chiến sĩ quần nhau với hai đại đội địch trong một ngày, hai người đã hy sinh. Trước khi phát tín hiệu để pháo bắn vào, chấp nhận hy sinh cùng trận địa, chiến sĩ Lê Bá Dương lấy máu mình viết lên tấm ảnh Bác.

“Lúc đó chỉ còn tôi và đồng chí Hòe, tôi lúc đó bị thương. Hai chúng tôi bắn, vừa nhặt lựu đạn của địch ném trở lại địch. Đạn đã hết, gần tối thì chúng tôi nghĩ là khó mà giữ được cao điểm này, chúng tôi buộc phải phát tín hiệu để pháo bắn vào trận địa để chấp nhận hy sinh mà địch cũng không thể chiếm được. Giờ phút đó, tôi nhớ trong túi áo là thường xuyên mang theo tấm ảnh Bác trong cuốn sổ tay - phần thưởng của những chiến sĩ thi đua. Tôi lấy tấm ảnh Bác dùng máu ở ngón mình viết những dòng tâm thư vào đó. Sau khi viết xong, chúng tôi đánh tất cả những loại mìn mà chúng tôi có trên trận địa, rồi phát pháo hiệu lên để quân ta bắn pháo vào trận địa” – ông kể lại. 

Sau khi các đồng đội tấn công vào điểm chốt, may mắn tìm thấy cả hai người chỉ bị thương nặng. Đồng chí chính trị viên đại đội đã lấy bức ảnh trong túi áo của đồng chí Lê Bá Dương chuyển lại cho anh em trong đơn vị. Năm 1972, mọi người dùng tấm ảnh này trưng bày trong Đại hội chiến sĩ thi đua, sau đó bị bức ảnh bị thất lạc. 

Tình cờ trong một đợt vận động viết lại những kỷ niệm về trung đoàn, một đồng đội đã tìm thấy bức ảnh và đã gửi lại cho chủ nhân. Cựu chiến binh Lê Bá Dương đã tặng bức ảnh quí giá đó cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam với mong muốn để thế hệ trẻ hiểu được về một thời sống và chiến đấu của thế hệ cha anh một cách chân thực nhất.

Lê Bá Dương quê ở Nghệ An. Để được đi bộ đội, ông đã tìm cách sửa lý lịch để trốn gia đình và địa phương. Vì trẻ nhất trung đoàn nên Lê Bá Dương được mọi người âu yếm gọi là “chú út trung đoàn”. Lúc đó thời gian huấn luyện rất ngắn. 49 ngày sau khi nhập ngũ, ông tham gia một trận đánh của Trung đoàn ở phía Tây Đông Hà - Quảng Trị. Trung đoàn đánh vào hai đại đội địch và tiêu diệt gần hết một đại đội Mỹ. Lê Bá Dương được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 2. 

Trong cuộc đời quân ngũ, ông 14 lần bị thương. Đặc biệt, trong chiến dịch mùa xuân năm 1975, ông có mặt trong đội hình Sư đoàn 390, tiến công vào giải phóng Sài Gòn. Đến năm 1990, Lê Bá Dương rời khỏi quân đội rồi đi làm báo. 

Trong hành trang viết lách của mình, ông vẫn nhớ mãi bài thơ đã được ông viết rất nhanh trong đầu khi nghe người đồng đội kể về lần gặp Bác. Ông kể: “Bài thơ được tôi viết tại sườn cao điểm 333 vào tuần cuối tháng 9/1969. Ngày ấy, sau khi chịu tang Bác Hồ tại Sen Thủy, đơn vị được lệnh thọc sâu vào tuyến Tây Bắc Cồn Tiên. Đêm dừng trên sườn dãy cao điểm 333, cái cảm giác tiếc nuối chưa một lần gặp Bác Hồ trong đời thật nhưng như vẫn nguyên vẹn những hình bóng Bác Hồ luôn dõi theo từng bước gian nan của người lính. Trong đó, đặc biệt là câu chuyện của anh Lê Nhật Tụng, người dũng sỹ của đơn vị có may mắn được tham gia đoàn dũng sỹ quân giải phóng miền Nam thăm, mừng thọ Bác Hồ vào ngày 19/5/1969. 

Trong cuộc mừng thọ cuối cùng đó, sau khi thăm hỏi kỹ lưỡng các cháu dũng sỹ từ chiến trường ra, Bác Hồ rời phòng khách về để các bác sỹ chăm sóc. Nhưng vừa bước đến cửa, Bác quay lại chỉ tay lên bàn còn nguyên các đĩa bánh kẹo mà các cháu dũng sỹ mải vui bên Bác không kịp dùng, Bác bảo: “Bánh kẹo của nhân dân nhờ Bác tặng các cháu, các cháu không ăn hết thì mang về chia cho các bạn ở nhà”. Rồi rất nhanh với từng từ dứt khoát, Người nhắc: “Riêng nước thì nhất định không được chia!”. Từ những kỷ niệm đồng đội kể lại, cùng với những khát vọng được một lần gặp Bác, tôi đã viết rất nhanh trong đầu bài thơ: “Đung đưa võng mắc lưng sườn dốc/Đêm về gió núi lạnh tái tê/Nằm nghe suối đổ như triều dậy/Vẫn ấm lòng con bóng Bác về”.

Bài thơ sau này Lê Bá Dương đã đọc lại cho phóng viên Báo Tiền tuyến của mặt trận B5 chép mang về in vào số đặc san Văn Nghệ đường 9 số cuối tháng 9/1969. Với ông, đó không chỉ là tác phẩm, mà hơn thế, còn là tình cảm, là lời thề thiêng liêng của một người lính với Bác Hồ!

Cùng chuyên mục

Đọc thêm