Làm gì để bảo tồn lễ hội dân tộc thiểu số?

(PLVN) - Không ít lễ hội của người dân tộc thiểu số hiện nay được các đạo diễn dàn dựng, hướng dẫn nghệ nhân thực hiện theo kịch bản, rồi khoác cho nó cái áo “lễ hội dân gian” để phục vụ du lịch, công tác tuyên truyền.

Hội Roóng Poọc của người Giáy

Hội Roóng Poọc của người Giáy

Nỗi lo bị pha tạp

Theo thống kê, hiện nay cả nước ta có khoảng 7.966 lễ hội, trong đó có trên 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88%), phần lớn trong số đó là do cấp xã quản lý (5.517 lễ hội - chiếm gần 70%). Nhìn vào số lượng lễ hội có thể thấy lễ hội dân gian ở nước ta rất đa dạng, phong phú, song hiện nay xu hướng đồng dạng hóa lễ hội đang trở nên phổ biến và khiến cho lễ hội dân gian đặc biệt ở dân tộc thiểu số phần nào trở nên nhạt nhòa, các lễ hội mất dần tính đặc sắc. 

Lễ hội dân gian vốn gắn bó với từng làng quê, từng vùng, miền và mang tính đặc trưng, song hiện nay lại được tổ chức theo một khuôn mẫu, một trình tự, một kịch bản gần như nhau, tạo nên sự đơn điệu, kém hấp dẫn.

Một số lễ hội dân tộc thiểu số vẫn chưa khai thác được nhiều, vẫn bị thất truyền và lực lượng nghệ nhân dân gian ngày càng mai một. Bên cạnh đó, sự chi phối của yếu tố thương mại và lợi nhuận trong tổ chức lễ hội cũng đang là một thách thức, rào cản lớn trong quá trình bảo tồn các giá trị văn hóa cổ và bản sắc dân tộc.

Lễ hội được phục dựng chỉ để phục vụ, thu hút khách du lịch, nhiều yếu tố trong lễ hội được làm mới, xa lạ với truyền thống địa phương; cách thức tổ chức nhiều lễ hội dân gian chưa tốt, thậm chí lộn xộn, gây bất bình cho du khách và xã hội.

Ví như sự kết hợp nhiều khi vụng về, chắp vá vội vàng các yếu tố của lễ hội dân gian trong các lễ hội du lịch hay sân khấu hóa nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khó được du khách chấp nhận, rồi “hội chứng kỷ lục”, “hội chứng xin nâng cấp lễ hội” cũng khiến cho sự ganh đua xảy ra, dẫn đến lãng phí và cả sự mất đoàn kết trong cộng đồng. Điều này đang có nguy cơ khiến cho lễ hội bị sa đà vào xu hướng hình thức, pha tạp, lai căng, không còn thực chất là ngày hội của nhân dân...

 Các lễ hội dân tộc thiểu số cần giữ gìn và phát huy

Theo quan niệm của đồng bào các dân tộc thiểu số, mỗi dịp tổ chức lễ hội là mỗi dịp báo cáo với Giàng về những sự kiện đã hoặc sắp sửa diễn ra của làng, gia đình hoặc dòng tộc. Đây thường là những sự kiện lớn, có sức lan tỏa rộng trong đời sống tâm linh của đồng bào. Đi kèm với các sự kiện bao giờ cũng có nghi lễ cúng bái, tùy theo mức độ lớn nhỏ mà có đâm trâu hoặc chỉ mổ lợn, gà... và làm đúng theo nghi thức truyền thống.

Tuy nhiên, hiện nay là nhiều không gian văn hóa, lễ hội của đồng bào đang dần bị hiện đại hóa. Đa phần các lễ hội của người dân tộc thiểu số đều chưa xuất phát từ nhu cầu tự thân của chính cộng đồng. Thậm chí, có những lễ hội cộng đồng được các đạo diễn dàn dựng, hướng dẫn nghệ nhân thực hiện theo kịch bản, rồi khoác cho nó cái áo “lễ hội dân gian” để phục vụ du lịch và công tác tuyên truyền…

Cần phát huy vai trò già làng, trưởng bản

Để phục dựng và giữ gìn bản sắc văn hóa lễ hội các dân tộc thiểu số, tháng 2/2020, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) đã có Văn bản số 458/BVHTTDL-VHDT gửi Sở VH-TT&DL, Sở VH-TT&DL các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Hà Giang, Kon Tum và Bình Phước về việc hướng dẫn thực hiện hỗ trợ phục dựng lễ hội các dân tộc thiểu số thuộc Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa năm 2020.

Cụ thể, trong năm 2020, Bộ VH-TT&DL lựa chọn 7 lễ hội truyền thống các dân tộc thiểu số cần được phục dựng, bảo tồn gồm: Lễ hội truyền thống dân tộc Lào, tỉnh Điện Biên; Lễ hội truyền thống dân tộc La Chí, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang; Lễ hội truyền thống dân tộc Nùng, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang; Lễ hội truyền thống dân tộc Thái, tỉnh Yên Bái; Lễ hội truyền thống tỉnh Bình Phước; Lễ hội truyền thống dân tộc Shi La, tỉnh Lai Châu; Lễ hội truyền thống dân tộc Gia rai, tỉnh Kon Tum. 

Để thống nhất về quy trình, thủ tục và tiến độ đảm bảo đúng mục tiêu đề ra, Bộ VH-TT&DL đề nghị Sở VH-TT&DL và Sở VH-TT các tỉnh khảo sát, lựa chọn, lập hồ sơ khoa học về lễ hội được bảo tồn phục dựng để tổng hợp trước ngày 20/2/2020.

Căn cứ vào thời gian dự kiến tổ chức bảo tồn, phục dựng lễ hội, Sở VH-TT&DL và Sở VH-TT các tỉnh chủ động xây dựng chi tiết báo cáo khảo sát, báo cáo khảo tả lễ hội gửi về Bộ VH-TT&DL để thẩm định trước thời điểm diễn ra lễ hội ít nhất 20 ngày. Trên cơ sở thẩm định của Bộ, các Sở tiếp thu, tổ chức bảo tồn, phục dựng lễ hội.

 Lễ hội dân tộc Cao Lan

Cũng theo Bộ VH-TT&DL khi tổ chức phục dựng lễ hội, Sở VH-TT&DL và Sở VH-TT các tỉnh chú trọng việc chỉ đạo tổ chức phục dựng lễ hội truyền thống giàu bản sắc, được lưu giữ trong đời sống các dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Thông qua lễ hội, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, lồng ghép đưa các yếu tố văn hóa mới tiến bộ nhằm tăng cường giao lưu quảng bá, giới thiệu, phù hợp với nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tâm linh của đồng bào các dân tộc, góp phần thúc đẩy phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, loại bỏ yếu tố lạc hậu, hủ tục không phù hợp trong đời sống cộng đồng.

Các lễ hội cần diễn ra một cách dân dã, tự nhiên, phản ánh sinh hoạt văn hóa cộng đồng, do đồng bào chủ động tham gia mở hội và thụ hưởng những giá trị văn hóa do lễ hội mang lại một cách thiết thực, lành mạnh, tiết kiệm. Lễ hội dân gian truyền thống không nên tùy tiện, lạm dụng các hình thức sinh hoạt văn hóa mới làm phai nhòa bản sắc văn hóa dân gian.

Đồng thời chú ý phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín, các nghệ nhân văn nghệ dân gian tham gia vào hoạt động của lễ hội, kể cả trong hành lễ cũng như trong phần hội, tránh khiên cưỡng, áp đặt; tránh mang nặng yếu tố thương mại hoặc lợi dụng để hoạt động mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc và các tệ nạn xã hội khác trong đời sống xã hội, gây phản cảm và xa lạ với đồng bào dân tộc thiểu số. 

Bà Nguyễn Thị Hải Nhung - Vụ trưởng Vụ Văn hóa dân tộc, Bộ VH-TT&DL: 

Thực tế cho thấy công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số đối mặt với không ít khó khăn, thách thức do tốc độ phát triển kinh tế chậm, địa bàn rộng, mật độ dân cư thưa thớt và không tập trung, chủ yếu đồng bào sống xa trung tâm, tiếng nói, phong tục tập quán không giống nhau, cơ sở hạ tầng kém, trình độ phát triển không đồng đều, khoảng cách về mức hưởng thụ và sáng tạo văn hóa giữa các dân tộc, vùng sâu, vùng xa với đô thị còn chênh lệch cao.

Hệ thống thiết chế và cơ sở vật chất nhìn chung vẫn ở tình trạng xuống cấp, thiếu đồng bộ và hiệu quả sử dụng còn thấp. Việc đưa văn hóa, văn nghệ đến phục vụ đồng bào các dân tộc tuy đã có cố gắng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu. 

Bên cạnh đó, sự xâm nhập của nền văn hóa từ bên ngoài ảnh hưởng tới đời sống văn hóa, tinh thần của người dân. Đặc biệt phải kể đến sự giao thoa văn hóa diễn ra giữa các dân tộc đã khiến cho việc bảo tồn chưa kịp thời, chưa đáp ứng theo yêu cầu. Việc tiếp thu văn hóa mới thiếu chọn lọc nên ảnh hưởng đến văn hóa truyền thống của các dân tộc dẫn tới nguy cơ bị mai một, biến dạng.

Việc tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng tham gia giữ gìn văn hóa dân tộc chưa được tiến hành thường xuyên, sâu rộng. Đội ngũ cán bộ quản lý và làm công tác văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực là người dân tộc, các nghệ nhân lâu đời ngày càng giảm dần, số còn lại rất ít. Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số thực sự đang đứng trước thách thức giữa bảo tồn và phát triển.

TS. Lê Thị Minh Lý, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di sản văn hóa: 

Đôi khi lễ hội có thể được sáng tạo thêm dựa trên nền tảng của truyền thống để tạo nên dấu ấn văn hóa của thế hệ mới, nhưng như thế không có nghĩa là “vay mượn” những điều không phù hợp, xa lạ với nếp cũ bởi đó chính là làm sai lệch lễ hội truyền thống.

Hơn ai hết, chủ thể - cộng đồng dân cư ở nơi sở hữu lễ hội hiểu rõ về nhân vật mà mình thờ cúng, về nghi thức cần có và quy trình thực hành... Cũng chính vì vậy mà cộng đồng chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho lễ hội diễn ra đúng bài bản mà vẫn an toàn. 

Bà Nguyễn Thị Phương Châm - PGS, TS Viện Nghiên cứu văn hóa: 

Lễ hội dân gian trước tiên phải giữ được tính đa dạng của lễ hội dân gian (đa dạng loại hình, đa dạng các thực hành nghi lễ, đa dạng các biểu đạt văn hóa gắn với đặc thù của từng lễ hội, từng cộng đồng địa phương, có như vậy khách du lịch mới có nhu cầu khám phá, trải nghiệm nhiều lễ hội khác nhau, ở nhiều vùng, miền, địa phương khác nhau.

Thứ hai, khắc phục tối đa tình trạng phục hồi, làm mới tràn lan lễ hội dân gian, đưa những yếu tố mới vào lễ hội một cách tùy tiện, không phù hợp, chạy theo hình thức. Việc phục hồi, sáng tạo, làm mới lễ hội nên được thực hiện bởi những chủ thể của lễ hội trong sự kết hợp chặt chẽ với các cơ quan văn hóa, các nhà chuyên môn để quá trình này đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của người dân. 

Thứ ba, khắc phục thương mại hóa một cách quá mức ở các lễ hội dân gian, bố trí các hòm công đức phù hợp, quản lý chặt chẽ các hình thức dịch vụ trong lễ hội, tránh việc coi khách du lịch đến lễ hội như đối tượng để kiếm lợi - một trong những nguyên nhân khiến du khách không muốn trở lại điểm du lịch đó. 

Thứ tư, cần thiết củng cố yếu tố thiêng - yếu tố cốt lõi trong lễ hội dân gian, để lễ hội dân gian thực sự là điểm thiêng, điểm thăng hoa của cả cộng đồng địa phương. Thứ năm, lễ hội dân gian chỉ hấp dẫn đó là văn hóa của người dân, do chính người dân sáng tạo ra, gìn giữ, thực hành và trao truyền. Quản lý nhà nước là cần thiết, nhưng không có nghĩa là giành lấy quyền quản lý hoàn toàn, “ngoài lề hóa” người dân với chính lễ hội của họ”. 

GS. Lê Hồng Lý - Viện Nghiên cứu văn hóa - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam:

Khi kinh tế thị trường phát triển, nhiều địa phương đã sớm nhận ra tầm quan trọng của những sản phẩm văn hóa có thể đem lại lợi ích kinh tế, nhất là có thể phát triển du lịch từ lễ hội dân gian. Tuy nhiên, vì nhu cầu giới thiệu cái mới, cái lạ của các lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số nên nhiều đơn vị đã khai thác đến mức thái quá, muốn hút khách, “câu view”, đã cố tình làm quá lên hay khác đi, bỏ qua những ý nghĩa nhân văn nguyên bản. 

T.Dương (t/h)

TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục
Đọc thêm