Kinh ngạc diệu pháp hàng ma của Tôn giả Ưu Ba Cúc Đa

(PLVN) - Ngài Ưu Ba Cúc Đa là vị tổ thứ tư của Thiền Tông Ấn Độ, tên Ngài còn được phiên âm là Ưu Ba Cấp Đa, Ưu Ba Quật Đa, Ô Ba Quật Đa, Ưu Ba Cúc Đề, Ưu Ba Cúc, Ưu Ba Quật, hoặc gọi tắt là Quật Đa, dịch sang tiếng Hán là Đại Hộ, Cận Tạng, Cận Hộ. 
Chân dung Đức tổ Ưu Ba Cúc Đa

Tôn giả Ưu Ba Cúc Đa

Ngài là người xứ Mathura, Ấn Độ, là một trong những vị thầy nổi danh của vua A Dục. Ngài sinh sau Đức Phật nhập Niết bàn 98 năm, Ngài dòng Thủ Đà La ở nước Sất Lợi, cha tên Thiện Ý, mẹ là Ưu Chí Liên.

Trước khi sanh Ngài, thân phụ nằm mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà. Thưở bé Ngài mặt mũi khôi ngô, tánh tình thuần hậu, trí huệ minh mẫn. Khoảng 12 tuổi, Ngài được gặp Tổ Thương Na Hòa Tu đến tận nhà và dạy cho Ngài phương pháp buộc niệm. Nghĩa là mỗi khi khởi nghĩ ác liền bỏ một hòn sỏi đen vào hũ, khi khởi nghĩ lành liền bỏ một hòn sỏi trắng vào hũ. Mỗi tháng đem ra xem xét coi đen nhiều hay trắng nhiều. Nếu đen nhiều phải cố gắng sửa đổi.

Ngài vâng làm như vậy, ban đầu sỏi đen nhiều, dần dần bằng nhau và sau này trắng nhiều. Ngài là người nổi tiếng thông minh, từ mẫn. Ngài được vị tổ thứ ba là ngài Thương Na Hòa Tu dạy phép quán: “Nếu khởi ác tâm, bèn quán tướng có một viên đá đen ở bên trái, nếu khởi thiện tâm, quán một viên đá trắng bên phải”. Ngài bèn nhiếp tâm quán niệm. Thoạt đầu đá đen rất nhiều, quán đến ngày thứ bảy, chỉ thấy tướng đá trắng.

Tổ Thương Na Hòa Tu bèn thuyết pháp Tứ Đế, ngay khi đó, tổ Ưu Ba Cúc Đa bèn chứng quả Tu Đà Hoàn. Ngài lần lượt quán các pháp khổ, không, vô thường, vô ngã, chứng lần lượt từ Nhị Quả đến quả A Na Hàm. Khi xuất gia thọ Cụ Túc Giới bèn chứng A La Hán Quả. Ngài trụ tại núi Ưu Lưu Mạn Trà ở nước Mathura thuyết pháp. Đồ chúng đông đến một vạn tám ngàn người. Ngài từng thuyết pháp cho vua nước Hoa Thị, chỉ bày các dấu tích cũ của Phật, dựng tháp cúng dường Phật và các đại đệ tử như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan… Số tháp dựng nhiều đến tám vạn bốn ngàn cái.

 Tài năng phật pháp và đức độ của Tôn giả Ưu Ba Cúc Đa đã khiến vua ma phải quy hàng 

Theo các nhà nghiên cứu hiện thời, tôn giả Mục Liên Tử Đế Tu, thầy của vua A Dục, rất có thể chính là tôn giả Ưu Ba Cúc Đa, bởi lẽ danh hiệu Mục Liên Tử Đế Tu chính là ghép tên của ngài Mục Liên và họ của ngài Xá Lợi Phất. Theo truyện ký, ngài Ưu Ba Cúc Đa trí huệ như Xá Lợi Phất, thần thông như Mục Liên, nên rất có thể cổ nhân dùng danh xưng Mục Liên Tử Đế Tu để xưng dương tổ Ưu Ba Cúc Đa. Vào năm 17 tuổi, Ngài xin Tổ Thương Na Hòa Tu xuất gia.

Tổ hỏi: Ngươi được bao nhiêu tuổi? Ngài thưa: Bạch thầy, con được 17 tuổi. Thân ngươi 17 tuổi hay tánh ngươi 17 tuổi? Ngài hỏi lại: Đầu thầy tóc bạc, vậy tóc thầy bạc hay tâm thầy bạc? Tổ bảo: Tóc ta bạc không phải tâm ta bạc. Con cũng thế, thân con được 17 tuổi, không phải tánh con 17 tuổi. Tổ bèn hoan hỉ nhận cho xuất gia làm thị giả. Đến 20 tuổi, Ngài thọ giới cụ túc và ngộ đạo. Tổ Thương Na Hòa Tu bảo: Xưa Đức Thế Tôn đem chánh pháp vô thượng truyền cho Tổ Ca Diếp. Tổ Ca Diếp truyền lại cho thầy của thầy ta là Đức A Nan, thầy ta truyền cho ta và nay ta truyền lại cho ngươi chánh pháp này. Ngươi cố gắng hộ trì đừng để đoạn dứt.

Diệu pháp hàng ma

Sau khi chứng quả, Ngài đến nước Ma Đột La, Ngài cảm hóa rất đông dân chúng quy hướng Phật pháp, có nhiều người đã chứng đạo quả. Có những khi Ngài thuyết pháp, chư thiên rải hoa, quả đất rúng động, khiến cung ma cũng bị chấn động. Vua ma e sợ Phật giáo thịnh hành thì bè đảng của chúng bị tiêu diệt, nên quyết dùng hết thần lực phá hoại Phật pháp.

Ma bèn hiện các ngọc nữ đến làm nhiễu loạn tâm thính giả. Ngài liền nhập định để quán sát nguyên do. Được cơ hội thuận tiện, ma đem vòng chuỗi anh lạc quàng vào cổ Ngài. Xuất định, Ngài dùng thần lực biến ba thây chết là người, chó và rắn thành một tràng hoa đẹp. Ngài dùng lời diệu ngọt bảo ma: Ngươi sẵn lòng tốt đem chuỗi anh lạc rất quí tặng ta, giờ ta biếu lại ngươi tràng hoa đẹp nầy, gọi là thù tạc nhau. Vua ma nghe rất mừng, đưa cổ nhận tràng hoa.

Tràng hoa tròng vào cổ giây lát hóa thành thây thúi, giòi tửa rất ghê tởm. Vua ma kinh sợ, muốn cởi ra mà cởi không được, dùng hết thần lực cũng không cởi nổi. Túng thế, vua ma chạy lên cõi trời Dục cầu cứu với vua Trời, rốt cuộc không kết quả. Lần lượt vua ma cầu cứu đến Trời Phạm.

Vua các Trời đều bảo: Pháp ấy là do đệ tử Phật biến hóa ra, chúng ta còn phàm lậu làm sao trừ được. Vua ma nghe phán như vậy lại hỏi: Thế thì làm thế nào gỡ ra? Vua Trời khuyên hãy quay về chỗ Ngài Ưu Ba Cúc Đa nhờ hóa giải, Vua ma theo lời dạy chí thành lễ tạ sám hối. Ngài bảo: Thánh trước dạy ta hàng phục ngươi. Tuy vậy, nếu ngươi biết cải thiện là được thờ phụng Phật, khỏi sa vào đường dữ. Vua ma nghe dạy vui vẻ thưa: Tôn giả vì con làm lợi ích lớn, cúi xin Tôn giả cởi vòng thây thúi dùm con.

Ngài dạy: Vậy ngươi phải quỳ gối chấp tay tự xướng ba lần quy y tam bảo đi. Vua ma quỳ gối chấp tay xướng ba lần quy y tam bảo xong, thì vòng thây thúi biến mất. Vua ma vui mừng nhảy nhót đảnh lễ Ngài nói kệ: Cúi lạy chánh định tột/ Đủ mười lực đại từ. Nay con xin hồi hướng/ Chớ còn tánh yếu hèn. Sau khi quy y tam bảo xong, Ngài bảo vua ma: Xưa ngươi thường thấy Như Lai, giờ đây hiện thử cho ta xem. Vua ma thưa: Hiện việc xưa không khó, chỉ xin Tôn giả trông thấy đừng lễ. Vua ma liền vào rừng ẩn mất.

Chốc lát bỗng thấy Phật từ mé rừng đi ra oai nghi nghiêm chỉnh, theo sau đoàn Tỳ kheo 1250 vị. Ngài vừa trông thấy, bất giác cúi mình đảnh lễ. Ma hoảng kinh biến mất. Lúc hóa đạo, mỗi khi giáo hóa một người thâm ngộ Phật pháp Ngài để vào thất đá một thẻ tre. Ngôi thất ấy bề dài 18 thước tay bề ngang 12 thước tay. Thế mà một thời gian thẻ tre đầy cả thất.

Sau cùng, Ngài độ ông Hương Chúng, con một vị trưởng giả và truyền chánh pháp lại cho ông này. Nhân thân phụ ông Hương Chúng mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà, nên Ngài đổi hiệu là Đề Đa Ca. Đã có người kế thế và nhân duyên hóa đạo đã xong. Ngài từ biệt đại chúng, ngồi kiết già thị tịch. Đề Đa Ca và môn đệ mở cửa thất đá lấy thẻ tre làm vật liệu thiêu Ngài, thiêu xong lượm xá lợi xây tháp cúng dường.

Đọc thêm