Trạng nguyên Nguyễn Quán Quang: Nhặt đá ném ao bèo cũng khiến tướng giặc nể sợ

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) - Nguyễn Quán Quang, người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, tỉnh Kinh Bắc (nay là xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), là vị trạng nguyên đầu tiên của đất nước. Ông thi đỗ đầu khoa thi tiến sĩ năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 3, tức năm Giáp Ngọ - 1234), đời vua Trần Thái Tông trị vì. Vì thế, các sử gia, các tác giả phong kiến đều gọi ông là khai khoa Trạng nguyên.

Trạng nguyên Nguyễn Quán Quang: Nhặt đá ném ao bèo cũng khiến tướng giặc nể sợ

Trạng nguyên đầu tiên của nước Đại Việt

Trong lịch sử thi cử Nho học ở Việt Nam, kể từ khoa thi đầu tiên vào năm Ất Mão (1075) dưới triều vua Lý Nhân Tông, trải qua hơn 150 năm, đến năm 1239 dưới triều vua Trần Thái Tông (niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 8) có 5 kỳ thi Đại khoa; nhưng cả triều Lý và triều Trần đều chưa lấy đậu Trạng nguyên. Các vị đỗ đầu các kỳ thi đó như: Lê Văn Thịnh, Mạc Hiển Tích, Bùi Quốc Khái, Trương Hanh và Lưu Miễn chỉ được lấy đỗ đầu nhất giáp.

Mãi tới khoa thi thứ 6 (khoa Đại tỉ thủ sĩ) vào năm Bính Ngọ (1246), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 15, đời vua Trần Thái Tông mới  có danh hiệu Tam khôi  gồm:  Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Trong kỳ thi này, Nguyễn Quan Quang đã đậu Trạng nguyên; Phạm Văn Tuấn đậu Bảng nhãn; Vương Hữu Phùng đậu Thám hoa. Như vậy Nguyễn Quan Quang chính là vị Trạng nguyên đầu tiên của nước Đại Việt. 

Nguyễn Quan Quang sinh ra trong một nhà nông nghèo, không đủ gạo tiền để theo học, nhưng với bản tính vốn ham học hỏi , Nguyễn Quan Quang thường lân la ngoài cửa lớp nghe thầy dạy bọn học trò trong làng học sách Tam tự kinh. Tuy chỉ nghe lỏm nhưng cậu bé Quan Quang ngồi ngay trước sân dùng gạch non (vì không có giấy mực đi học như bọn trẻ trong lớp) viết chữ xuống nền gạch. Nét chữ của cậu rất đẹp. Một hôm, tan buổi học, thầy đồ chợt nhìn thấy sân nhà có rất nhiều nét chữ như rồng bay, phượng múa. Thầy kinh ngạc và nói rằng: “đây mới chính là trò giỏi”. Nói rồi, thầy cho gọi Quan Quang vào lớp và thu nhận làm học trò của thầy.

Nguyễn Quan Quang nổi tiếng thông minh học một biết mười. Chẳng bao lâu, ông đã thông kinh, thuộc sử, ứng khẩu thành thơ, luận bàn việc đời thông thái uyên thâm. Ông dự kỳ thi Hương, đậu luôn giải Nguyên. Đến kỳ thi Hội lại đỗ luôn Hội nguyên. Khi vua Trần Thái Tông mở khoa thi Đại tỉ Thủ sĩ, ông đậu luôn Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh ( tức Trạng nguyên). Người đương thời khi đó đều gọi Nguyễn Quan Quang là “ông Tam nguyên”.

Ném đá ao bèo dọa tướng giặc

Sau khi vinh quy bái tổ, Nguyễn Quan Quang vào chầu vua để ra mắt. bấy giờ quân xâm lược Mông Cổ tiến đến biên giới, lăm le đợi ngày xâm lược nước ta. Vua Trần Thái Tông ra chiếu cử Nguyễn Quan Quang sang thượng nghị với giặc. Tên tướng giặc nổi tiếng là kiêu hùng, thâm thúy. Y cho rằng Trạng nguyên nước Việt đến là để mang ba tấc lưỡi thuyết khách, nên hắn bèn nghĩ cách phải dùng uy để trấn áp ông.

Nhân lúc đi qua ao bèo, tướng giặc Mông Cổ vớt một cây bèo lên, nắm gọn trong lòng bàn tay lại rồi bóp chặt. Lát sau, hắn mở lòng bàn tay ra chìa cho Nguyễn Quan Quang xem. Cây bèo đã nát vụn trong bàn tay hộ pháp của hắn. Tướng giặc cười sằng sặc vẻ rất đắc ý. Thâm ý của tướng giặc ngạo mạn trong hành động bóp nát cánh bèo là: dân nước Việt bé nhỏ chỉ như những cánh bèo non yếu ớt, đạo quân của hắn chỉ cần đánh khẽ sẽ tan như cánh bèo này.

Quan Quang hiểu được thâm ý của viên tướng giặc; ông bèn nhặt ngay một hòn đá rất to và ném xuống giữa ao bèo. Bèo dạt nhanh ra thành một khoảng trống, nhưng chỉ ít lát sau, những cánh bèo lại tụ kín mặt ao, không còn thấy dấu vết của viên đá to đâu nữa.  Xem hành động của Nguyễn Quan Quang, tên tướng giặc tái mặt vì đã hiểu rõ thâm ý đối đáp rất nhanh của vị Trạng nguyên trẻ nước Đại Việt rằng:  nước Việt tuy nhỏ nhưng bao giờ cũng đoàn kết toàn dân để bảo vệ giang sơn.

Không một sức mạnh nào có thể khuất phục được truyền thống yêu nước và đoàn kết ấy giống như ao bèo tụ lại sau khi bị ném đá. Sau chuyện đó, viên tướng giặc đã hoãn binh mà không dám tiến quân sang xâm lược nước ta ngay.

Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất (1258), trạng nguyên Nguyễn Quan Quang có nhiều cống hiến lớn. Ông được vua Trần Thái Tông phong đến chức Bộc xạ ( tương đương chức Tể tướng). Khi làm quan, ông quan xuất thân từ gia đình nông dân nghèo khó đó hết lòng vì dân, vì nước, thanh liêm, trung thực. Ông được cả trong triều cũng như dân chúng mến phục vì đức và tài vẹn toàn.

Ông lấy vợ tên là Tuyên Huệ phu nhân. Ở kinh sư một thời gian, thì ông từ quan về quê. Ông lui về quê hương mở trường dạy chữ cho cả con nhà nghèo. Ông sống một cuộc đời thanh đạm như người đi tu. Người dân Tam Sơn cho rằng: ông là người khai sáng việc học của quê hương, mở đường cho đất Ba Gò sau này có một “kho nhân tài”. 

Sau khi ông mất, yêu mến, cảm phục ông, nơi Nguyễn Quan Quang dạy học được dân làng dựng lên một ngôi chùa để tưởng nhớ đến ông- một người sống như tu. Chùa mang tên Linh Khánh. Ngôi chùa ấy ngày nay không còn nữa, nhưng vẫn còn một cây hương tạc bằng đá vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Nội dung ghi trên bia nói về công đức của trạng nguyên Nguyễn Quan Quang với dân làng. Cùng với đó, dân làng còn lập đền thờ ông trên núi Viềng, họ thờ ông làm Thành Hoàng, gọi là Bản thổ Thành Hoàng, Đại vương Phúc Thần. Triều đình cũng truy phong ông là Đại tư không.

Hàng năm cứ vào dịp 22 tháng chạp âm lịch, dân làng lại tổ chức “Tế phong mã” để tưởng nhớ vị Trạng nguyên tài năng và ân đức của quê hương Kinh Bắc. Âu cũng là để nhắc nhở các thế hệ trẻ tiếp nối truyền thống hiếu học và yêu nước, thương dân của vị Trạng nguyên đầu tiên nước Đại Việt. Trong danh sách 47 vị trạng nguyên ở Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), Nguyễn Quán Quang là Trạng nguyên được ghi đầu tiên, sau đó mới đến Nguyễn Hiền.

Theo Xa lộ pháp luật

Cùng chuyên mục

Đọc thêm