Đam mê hóa học, sát thủ nhí tự chế thuốc độc sát hại người thân, bạn bè

(PLVN) - Là một người thông minh và có niềm đam mê với hóa học, ai cũng nghĩ rằng lớn lên Graham Young rất có thể sẽ trở thành một nhà khoa học tài ba. Thế nhưng, cậu bé đã trở thành tên sát nhân nhí, khi vận dụng kiến thức của mình, chế tạo ra các loại thuốc để đầu độc chính những người trong gia đình và sát hại hàng loạt người khác.

Đam mê lệch lạc biến cậu bé Graham Young thành kẻ giết người.

Đam mê lệch lạc biến cậu bé Graham Young thành kẻ giết người.

Lấy gia đình, bạn bè ra “thử độc”

Sinh ngày 7/9/1947 tại Neasden, phía Bắc London (Anh), Graham Frederick Yound không có một tuổi thơ yên bình như những đứa trẻ khác. Ngay từ lúc đang mang thai Graham, mẹ cậu đã mắc bệnh lao và qua đời khi Graham vừa chào đời được 3 tháng. Khi đó cha của Graham, Fred Yound đã quá đau buồn không thể lo lắng được cho con trai nên gửi cậu đến sống cùng dì Winnie và con gái lớn, Winifred ở nhà ông bà ngoại.

Graham đã sống ở đó được 2 năm cùng người dì và chồng của cô, Jack, ba người rất thân thiết với nhau. Năm 1950, khi ông bố tái hôn, Graham bắt buộc phải chia tay gia đình người dì và chuyển về sống cùng bố và mẹ kế. Do không thể kết nối được nên dần dần Graham trở nên trầm tính và thích ở một mình.

Lúc này, Graham dần phát triển một niềm đam mê đặc biệt với hóa học và độc tính, đồng thời cậu cũng rất thích đọc thêm về những kẻ giết người khét tiếng. Khi mới 9, 10 tuổi, Graham đã bắt đầu lấy trộm nước hoa, chất rửa sơn móng tay của mẹ kế để phân tích thành phần và hít hơi. Graham bị ám ảnh với hóa chất và độc dược. Nếu ai đó trong nhà uống thuốc đau đầu hay cảm cúm, Graham sẽ nói với họ tên khoa học chính xác về tất cả các thành phần hợp chất, cũng như cho họ biết chi tiết về những gì sẽ gặp phải nếu lạm dụng thuốc.  

Đam mê hóa học, sát thủ nhí tự chế thuốc độc sát hại người thân, bạn bè ảnh 1
 

Không nghi ngờ gì, ông Fred khuyến khích sở thích khoa học của Graham bằng cách mua cho cậu con trai một bộ đồ pha chế hóa chất. Quá thích thú, Graham dành hàng giờ để nghiên cứu và pha chế hóa chất. Và đó cũng là bước đầu tiên để Graham thử nghiệm kiến thức về chất độc và sử dụng người thật để thực hành thí nghiệm.

Cứ thế, Graham đã có thể chuyển từ kẻ hít mùi chất rửa móng tay sang chất ether để “phê”. Cậu ta luôn mang theo mình một lọ a xít. Vài lần khác, Graham chiết được thuốc nổ từ pháo hoa và chế vài quả bom nhỏ. Cậu ta thổi tung tường nhà hàng xóm và một căn nhà gỗ gần đó, song may mắn là không bị ai biết. Ông Fred Young đã rất lo lắng cho Graham trong một thời gian dài và cấm con trai đụng đến các chất hóa học khi Graham làm nổ phòng của cậu.

Ở tuổi 12, Graham đã bày tỏ sự ngưỡng mộ với Adolf Hilter và rồi nhanh chóng quan tâm đến các bí thuật và tuyên bố tham gia một nhóm pháp sư do một người đàn ông cậu từng gặp ở thư viện điều hành.

Ở tuổi 13, với những am hiểu và kiến thức về chất độc đã giúp Graham thuyết phục hai nhà thuốc ở trong vùng rằng mình đã 17 tuổi và cần hóa chất để nghiên cứu. Graham Young đã kiếm đủ lượng antimony, arsenic, mao địa hoàng và thallium có thể giết tới 300 người.

Sau đó, không biết vì lý do gì, Graham bắt đầu hạ độc với chính bạn bè và  những người thân xung quanh của mình. Nạn nhân đầu tiên của Graham là Christopher Williams, người sống gần nhà Young, cũng là một cậu bé đam mê hóa học. Cả hai thường ăn trưa cùng nhau ở trường, thậm chí đôi lần đổi sandwich cho nhau.

Những cái chết kinh hoàng

Không lâu sau đó, Williams bắt đầu đổ bệnh, đau đầu và co rút. Các bác sĩ dựa trên những triệu chứng này, kết luận cậu bé bị đau tiền đình. Suy nghĩ Williams bị đầu độc không hề xuất hiện, bởi họ chẳng thể tin được cậu học sinh 13 tuổi lại có thể biết chế tạo chất độc, đồng thời Graham lại luôn tỏ ra quan tâm người bạn bị ốm.

Tiếp đó, Graham tẩm độc vào trong trà khi đưa cho mẹ kế uống. Năm 1961, mẹ kế Molly của Graham bị một cơn đau bụng dữ dội. Bà bắt đầu trải qua những triệu chứng như nôn mửa, tiêu chảy và đau quặn bụng mà ban đầu cô cho rằng mình bị đau mật. Cha và chị gái của Graham sau đó cũng chịu những cơn đau tương tự. Tuy nhiên, chẳng có bất kì ai nghi ngờ Graham có liên quan đến căn bệnh bí ẩn này. Hầu hết mọi người cho rằng đây là một loại bệnh dạ dày truyền nhiễm.

Nhưng đến tháng 11/1961, mọi chuyện trở nên phức tạp hơn. Một sáng nọ, cô chị gái Winifred Young được em trai pha trà, song do vị quá chua nên cô chỉ uống một ngụm rồi đem đổ đi. Trong khi trên tàu đến chỗ làm khoảng 1 giờ sau đó, cô gái trẻ bắt đầu gặp ảo giác và phải nhập viện, các bác sĩ đi đến kết luận rằng cô đã bị ngộ độc cây cà dược hiếm gặp/ Ông Fred bắt đầu nghi ngờ những thí nghiệm của con trai đã gây hại cho gia đình. Fred đã nói chuyện với Graham nhưng cậu bé phủ nhận. 

Đam mê hóa học, sát thủ nhí tự chế thuốc độc sát hại người thân, bạn bè ảnh 2
Trả giá cho tội ác, Graham Young bị tuyên 4 lần bản án tù chung thân.  

Sau khi Christopher Williams may mắn thoát chết thì mẹ kế trở thành tâm điểm của Graham. Bệnh của Molly ngày càng nặng hơn. Ngày 21/4/1962, Molly đã qua đời. Molly Young được hỏa táng, theo gợi ý của Graham, sau khi bác sĩ kết luận nguyên nhân tử vong là lệch xương ở cột sống.

Theo lời khai của Graham sau này, do phải chống chọi với antimony hơn một năm, Molly đã thực sự đề kháng được độc chất này. Vào buổi tối bà qua đời, Graham đã trộn vào bữa ăn tối của mẹ kế 20 hạt “kim loại nặng” thallium không màu, không mùi, không vị. Số lượng này đủ để giết 5 hoặc 6 người lớn.

Sau cái chết của Molly, căn bệnh bí ẩn của nhà Young dường như lan rộng. Chú của Graham là John cũng bắt đầu nôn mửa rất nhiều sau tang lễ. Chắc chắn có thứ gì đó trong đồ ăn, có thể do mù tạt trộn trong món sandwich, thứ duy nhất ông ăn.

Đến lúc này, âm mưu giết người thứ hai của Graham bắt đầu được thực hiện. Và lần này, nạn nhân thực sự có quan hệ máu mủ với hắn. Fred Young đã có các triệu chứng nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng suốt thời gian bệnh tật của Molly. Sau khi vợ chết, các triệu chứng đó lên tới mức mà Fred tin chắc mình cũng sẽ chết.

Khi cha của Graham là ông Fred nhập viện, Graham thường xuyên ghé thăm và hào hứng thảo luận về bệnh trạng của bố với bác sĩ, những người khi đó không thể xác định được bệnh nhân bị ngộ độc arsenic hay antimony. Rốt cuộc họ cho rằng nạn nhân bị ngộ độc antimony và chẩn đoán chỉ thêm một liều nữa thôi là Fred sẽ chết. Sau này, Fred Young nhớ lại rằng dường như bệnh của ông chỉ tái phát vào ngày thứ hai mỗi tuần, sau khi Graham đi cùng ông tới quán rượu trong thành phố.

Không một ai trong gia đình nghĩ rằng Graham đầu độc cả gia đình. Cho đến khi một giáo viên môn hóa học tại trường của Graham, Geoffrey Hughes, vốn lâu nay không mấy thoải mái trước những thí nghiệm cực đoan của cậu bé. Vào một tối sau khi tan học, ông quyết định lục bàn học của Graham. Sau khi tìm thấy nhiều chai thuốc độc, những hình vẽ người hấp hối và những bài viết về những kẻ đầu độc nổi tiếng, Hughes quyết định liên lạc với cảnh sát.

Không chỉ vậy, chính dì của Graham là bà Winnie, người mà cậu sống cùng khi còn nhỏ, đã biết về niềm đam mê độc dược của cháu trai và bắt đầu nghi ngờ. Bà liền gửi Graham đến gặp một bác sĩ tâm thần và người này cũng đã đề nghị gọi cảnh sát. Ban đầu, Graham chối bay biến tất cả, thậm chí ngay cả khi một ống antimony mà anh ta thường mang theo rơi ra khỏi túi áo ngực.

Chưa bao giờ từ bỏ ý định giết người

Ngày 23/5/1962, Graham Young bị bắt. Y thú nhận tội giết mẹ kế cũng như đầu độc các thành viên khác trong gia đình. Tuy nhiên, do mẹ kế của y được hỏa táng nên không có bằng chứng nào để chứng minh lời thú tội của y. Cuối cùng, Gramham không bị buộc tội giết người, thay vào đó, anh ta bị bắt giam và trở thành tù nhân trẻ tuổi nhất ở nhà tù Broadmoor kể từ năm 1885.

Việc bị giam giữ trong tù không làm khiến hắn nản lòng mà Graham vẫn đam mê những thử nghiệm hóa học. Trong vòng vài tuần sau khi Graham đến Broadmoor, một tù nhân có tên John Berridge đã chết vì ngộ độc cyanide. Anh ta đã đầu độc bạn tù bằng chất cyanide được chiết xuất từ lá cây nguyệt quế. Tuy nhiên, do không tìm được chứng cứ nên cảnh sát công khai John Berridge chết do tự sát.

Tháng 6/1970, sau gần 8 năm ở Broadmoor, Tiến sĩ Edgar Udwin, bác sĩ tâm lí của nhà tù đã viết thư gửi Bộ trưởng Nội vụ khuyến nghị trả tự do cho Graham Young, cho rằng anh ta đã “không còn bị ám ảnh bởi thuốc độc, bạo lực và điều ác nữa”, khi đó anh ta 23 tuổi. 

Tuy nhiên trước khi ra tù, Graham tuyên bố: “Một khi được tự do, tôi sẽ giết một người cho mỗi năm tôi phải ở đây”. Cuối cùng, Graham đã được trả tự do và đến ở với người chị Winifred Young và anh rể. Trong vòng một tuần sau khi được phóng thích, Young bắt đầu tập sự làm người coi kho ở Slough và rồi chuyển đến một nhà trọ gần đó.

Gần như ngay sau khi Graham đến đây, một người thuê trọ có tên Trevor Sparkes, 34 tuổi, bắt đầu có những cơn đau thắt vùng bụng dữ dội. Mặt Sparkes bắt đầu phù nề, nôn mửa liên tục, cùng với tiêu chảy. Rốt cuộc Sparkes, một người đam mê bóng đá, không bao giờ có thể chơi được môn thể thao này nữa, khi tiếp tục cảm thấy “những cơn đau ma quỷ” nhiều năm sau đó.

Sau đó, Graham làm việc tại một phòng thí nghiệm sản xuất ống kính hồng ngoại cho quân sự của John Hadland. Tại đây, mọi người đều biết về căn bệnh tâm thần của Graham nhưng không biết lý đo đằng sau nó hoặc lịch sử phạm tội của anh ta. Vì vậy,mọi người không ai cảnh giác với anh ta.

Giống như 9 năm trước, Graham lại nảy sinh ý định đầu độc mọi người qua những ly trà. Anh ta nhanh chóng đề nghị sẽ đảm nhận nhiệm vụ pha trà coi như một cách để cảm ơn mọi người đã chỉ dẫn hắn khi mới vào công ty. Lúc này những người đồng nghiệp coi đó là một cử chỉ ân cần. Cuối cùng, điều tồi tệ cũng xảy đến. Các đồng nghiệp của Graham bắt đầu cảm thấy liên tục bị chóng mặt, đau đầu, đau bụng và nôn mửa. 

Cụ thể mới đầu khi tới công ty, Graham đã kết bạn với  Ron Hewitt, 41 tuổi, Bog Egle, 59 tuổi, quản lí nhà kho, Fred Biggs, 60 tuổi, giám sát kho hàng. Một thời gian khi Graham đến, Egle thường xuyên phải nghỉ làm do bị ốm. Rob Hewitt cũng bị tiêu chảy, đau bụng dữ dội và đau họng sau khi uống một tách trà do Young pha và sau đó phát bệnh lạ. Ngày 7/7/1971, Egle qua đời. Đến tháng 9/1971, một đồng nghiệp khác có tên Fred Biggs bắt đầu phát các triệu chứng tương tự. Tiếp đến là ông Jethro Batt, 39 tuổi, được Graham pha cà phê đã đổ đi và phàn nàn rằng nó quá đắng. Sau đó cũng bị nôn mửa và đau chân tê dại. Các nhân viên khác là Peter Buck và David Tilson cũng vậy. Tháng 11/1971, Fred Biggs qua đời, kết thúc 2 tháng sống trong đau đớn.

Đến thời điểm này, gần 70 nhân viên trong công ty đều có những triệu chứng tương tự như hai người đàn ông đã chết. Điều này khiến cho công ty cảm thấy lo ngại và phải mời bác sĩ đến kiểm tra. Theo kết luận của bác sĩ, tất cả mọi người đều bị nhiễm độc kim loại nặng. Lúc này, Graham Young đã đến vào trao đổi với bác sĩ những kiến thức mình biết về kim loại nặng, trong đó có thallium. Cảm thấy nghi ngờ về kiến thức chuyên sâu của người này, các bác sĩ đã nói chuyện với lãnh đạo công ty và báo cảnh sát. 

Cảm thấy có điều gì đó kỳ lạ sau khi nghe bác sỹ nói, Giám đốc công ty đã ngay lập tức báo cảnh sát và yêu cầu lục soát toàn bộ tủ đồ của nhân viên. Sau cùng, cảnh sát đã tìm thấy một lọ chứa chất độc thallium cùng cuốn sổ ghi chép công thức cũng như những thí nghiệm để pha chế loại kịch độc này trong tủ của Graham. Graham cũng bị phát hiện và bị bắt giữ vào ngày 21/11/1971 khi đang trên đường đến thăm cha. Một số lượng tali đã được tìm thấy trong người anh ta. 

Ngày 19/6/1972, Graham bị kết án hai tội danh giết người, hai tội âm mưu giết người và hai tội đầu độc. Mặc dù phủ nhận không có tội nhưng bị cáo Graham Young bị kết 4 bản án tù chung thân cùng 2 bản án tù 5 năm. Năm 1990, Graham Young chết ở tuổi 42 tại nhà tù Parkhurst trên đảo Wight. Nguyên nhân tử vong chính thức được ghi nhận là trụy tim, song đến nay vẫn nhiều người nghi ngờ về chuyện đó.

Theo Pháp luật 4 Phương

Cùng chuyên mục
Con tàu xui xeo nhất của Hải quân Mỹ.

Chuyện bi hài về chiếc tàu chiến xui xẻo suýt hại chết Tổng thống Mỹ

(PLVN) - Hải quân Mỹ có một danh sách dài các tàu chiến nổi tiếng vì những chiến công anh hùng và sự phục vụ đáng tự hào. Tuy nhiên, lực lượng này cũng có những con tàu không may mắn, mà đứng đầu trong số đó có thể nói là USS William D.Porter - một tàu khu trục lớp Fletcher được đóng trong Chiến tranh thế giới II.

Đọc thêm