Ngôi chùa 1991 tượng Phật lớn nhỏ

(PLO) -Chùa Đất Sét tọa lạc trên đường Tôn Đức Thắng (thuộc địa bàn khóm 1, phường 5, TP Sóc Trăng) còn có tên “Bửu Sơn tự”, nhưng người dân quanh vùng vẫn quen gọi với cái tên giản dị chùa Đất Sét. Nơi đây có 1991 pho tượng Phật lớn nhỏ; 2 ngôi tháp; 1 tòa sen; 4 con linh thú; 1 chùm đèn Lục long đăng… đều được làm bằng đất sét và 4 cặp đèn cầy (nến) cao 2,6m; 3 cây nhang (hương) lớn, mỗi cây cao 1,5m và nặng 50kg.

Chùa Đất Sét

Chùa Đất Sét

Chùa Đất Sét tọa lạc trên một diện tích khoảng 400m2. Cổng tam quan được xây kiên cố, lợp ngói. Ngôi chánh điện ngó về hướng Đông. Phần mặt tiền của điện được xây kiến cố bằng vật liệu thời hiện đại, hai cột chính có đắp nổi hình rồng uốn lượn khá tỉnh xảo.

Phần còn còn lại của điện chỉ là cột gỗ, mái tôn, không lầu và có kết cấu đơn giản. Cả mái chùa được chống đỡ bằng 24 cây cột cây. Mỗi cây được ốp bằng đất sét, đắp hình rồng uốn lượn và những hoa văn trang trí khác.

Giã đất sét nặn tượng

Theo lời kể của ông Ngô Kim Quang, người quản lý chùa hiện nay, trước đây chùa Đất Sét chỉ là một am nhỏ được xây dựng vào năm 1906 do ông Ngô Kim Đính khởi dựng. Chùa là của dòng họ Ngô tự lập để tu tại gia. Mãi đến đời trụ trì thứ tư, ông Ngô Kim Tòng (1909 – 1970) đã tôn tạo, mở rộng thêm để có ngôi Bửu Sơn tự như bây giờ.

Khi còn nhỏ, ông Ngô Kim Tòng hay đau ốm. Đến năm 1929, lúc ấy ông 20 tuổi thì lâm bệnh nặng tưởng không qua khỏi, gia đình chỉ còn cách đưa ông Tòng lên ngôi chùa trên núi thuộc tỉnh An Giang để chữa trị và cầu khấn trời Phật. Vừa uống thuốc vừa tập ngồi thiền, tĩnh tâm, dần dần ông đã khoẻ lại và đã quyết tâm đi tu khi mới ở tuổi 20. 

Khi còn trẻ, ông Ngô Kim Tòng đã say mê nặn tượng lấy nguyên mẫu từ những bức hoạ đơn sơ trên bàn thờ Phật của cha, những vật dụng hàng ngày, cây trái quanh nhà đã trở thành đề tài phong phú cho ông thả sức nặn với chất liệu chủ yếu là đất sét quanh vùng. Sau khi lành bệnh ông đam mê vào nặn tượng và thay cha gìn giữ chăm sóc ngôi chùa từ những năm 1930 đến 1970.

Với lòng say mê hiếm có, ông Tòng đã miệt mài vừa làm, vừa học mày mò tìm kiếm các công thức, phương pháp để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật vô giá trên mà không hề đi học ở một lớp đào tạo nào. Chỉ là những trải nghiệm dân gian, ông đã tạo nên những công trình kỷ vật điêu khắc bằng đất sét trên.

Nguyên liệu dùng cho việc nặn tượng chủ yếu bằng đất sét, do ông Tòng lấy từ những cánh đồng cách chùa vài cây số, đem về phơi khô, rồi bỏ vào cối dùng chày giã nhuyễn cho mịn, lọc hết tạp chất, rễ cây, rễ cỏ, lấy đất mịn trộn cùng mạt cưa làm nhang (bột hương) và keo ô dước tạo thành một hỗn hợp dẻo thơm.

Ngôi chùa 1991 tượng Phật lớn nhỏ ảnh 1
Ông Ngô Kim Quang bên cây đèn cầy khổng lồ ở chùa

Sau đó, ông mới bắt đầu nắn tượng, những bức tượng mịn màng, không nứt nẻ, nhìn vào không ai có thể tin được đó là đất sét. Thậm chí, khi nghe giới thiệu những pho tượng làm bằng đất sét, nhiều người không tin, lén lúc không ai chú ý, dùng tay bẻ một số chi tiết trên tượng thì người ta mới tin đúng là các pho tượng được làm bằng đất sét thật.

Ngoài ra, ông còn nghiên cứu và ứng dụng cách đỡ cho việc nặn tượng đạt yêu cầu thẩm mỹ cao bằng cách dùng lưới kẽm, cây gỗ dựng sườn, sau đó dùng vải mùng bao lại và đắp nguyên liệu hỗn hợp làm tượng lên, bề ngoài được phủ bằng một lớp sơn nước kim nhũ và dầu bóng.

Không chỉ có đôi tay khéo léo, tài hoa mà với tư duy tưởng tượng vô cùng phong phú của ông hàng trăm bức tượng lớn, nhỏ được hình thành mà không trùng lắp. Mỗi tượng một vẻ, thể hiện rõ cái thần sắc trên từng khuôn mặt. Đó còn là kết quả từ cái tâm của người có lòng hướng Phật, sự miệt mài cần mẫn, lặng lẽ nhưng mang lại vị ngọt cho đời.

Ngôi chùa độc đáo

Bước qua cổng tam quan của chùa thẳng theo con đường bê tông vào cửa bên hông, du khách sẽ bắt gặp một chú voi to màu trắng (Bạch tượng) cao khoảng 2m như đón chào khách tham quan, sau đó đến gian chính thờ Phật. Nét tiêu biểu trong cách bố trí tượng Phật ở đây nói lên tư tưởng “Tam giáo cộng đồng” (Phật-Nho-Lão) với hệ thống Phật: A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Khổng Tử, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Lão Tử, Phật Di Lặc,.…

Ông Ngô Kim Tòng đã tạo nên các tác phẩm khác như tháp Đa Bảo được làm vào năm 1939 lúc ông mới 30 tuổi, cao khoảng 4m được thiết kế hết sức tinh vi. Tháp có 13 tầng, mỗi tầng có 16 cửa, mỗi cửa có một tượng Phật, tổng cộng tháp Đa Bảo có 208 cửa, 208 vị phật và 156 con rồng đỡ từng mái tháp. Phần dưới chân tháp thờ Đại Thừa Diệu pháp Liên hoa Kinh, tượng trưng cho Ngọc Xá Lợi của Phật. 

Kế bên tháp Đa Bảo là “Bảo tòa thỉnh Phật trụ thế truyền tháp luân" hay gọi là “Bảo Tòa Liên Hoa”. Phía trên cùng của Bảo tòa là một đài sen có 1000 cánh, mỗi cánh có một vị Phật ngồi tọa thiền. Phía dưới đài sen lại có “Bát quái Thiên tiên” tượng trưng cho bốn phương “Đông – Tây – Nam – Bắc” và 8 hướng (8 cung) là “Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài”, mỗi cung có hai tiên nữ đứng hầu, dưới đài sen và Bát quái lại có Tứ đại Thiên Vương trấn giữ. Nhìn tổng thể tòa tháp và đài sen này, du khách sẽ nghĩ ngay đến một nhà điêu khắc tài ba lỗi lạc đã tận dụng giáo lý Phật pháp để sáng tạo ra những pho tượng biết nói ý Phật.

Trong gian thờ phía trên trần nhà, có treo một chùm đèn gọi là “Lục Long Đăng” cũng bằng chất liệu đất sét, gồm ba chóp đỉnh với 6 con rồng uốn cong như tượng trưng cho lục tỉnh miền Tây Nam bộ, đuôi chụm vào nhau, đầu trổ ra các phía.

Thân rồng được làm hoàn toàn bằng đất sét với nhiều chi tiết tinh xảo, nên trọng lượng khá nặng. Đáy đèn là một tòa sen lặt úp tỏa cánh xuống điện thờ, cánh sen khá mỏng nhưng theo dấu thời gian Lục Long Đăng không hề rơi hay sứt mẻ tí nào. Đây là một kiệt tác nghệ thuật hiếm có và là tác phẩm cuối đời của ông Ngô Kim Tòng.

Chung quanh chùa, góp phần canh giữ cho hệ thống các tượng Phật, còn nhiều tượng thú cũng bằng đất sét, nổi bật nhất và sắc sảo nhất là cặp Kim Lân đang ngẩng cao đầu trước bệ thờ giữa điện, ngậm trái trân châu, chân gác lên quả cầu trông thật oai phong lẫm liệt, thêm tượng Thanh Sư, Bạch Hổ, Long Mã,.. con thì hiền lành con thì hết sức oai phong.

Ngôi chùa 1991 tượng Phật lớn nhỏ ảnh 2
Đài sen 

Không chỉ nổi tiếng bởi hàng ngàn bức tượng làm bằng đất sét mà còn được du khách biết đến bởi 3 cây nhang (hương) và 04 cặp đèn cầy (nến) khổng lồ. 

Theo ông Ngô Kim Quang, những năm cuối đời, ông Ngô Kim Tòng không đúc tượng mà tiến hành đúc đèn cầy dựng trong chính điện chùa. Để đúc đèn cầy, ông mua sáp bạch lạp – loại sáp nguyên chất không lẫn tạp chất từ Sài Gòn về (có nguồn gốc từ Pháp gọi là parafin), chặt vụn sáp nguyên khối nấu chảy ra rồi mới đúc đèn.

Do các đôi đèn này có kích thước quá lớn nên ông Tòng đã dùng tôn lợp nhà làm khuôn, sáp đổ vào chảo lớn nấu liên tục ngày đêm cho nóng chảy rồi đổ vào khuôn tôn có chiều cao 2,6m, phía ngoài khảm thêm chữ và hình rồng vàng lúc ẩn, lúc hiện uốn lượn theo thân đèn.

Sau một tháng, các đôi đèn mới khô hẳn, khi dỡ bỏ khuôn, các đôi đèn này tự nhiên có hình dợn sóng của các tấm tôn. Mấy tháng ròng liên tục làm như vậy, ông đúc được sáu cây đèn cầy lớn (3 cặp), mỗi cây nặng 200 kg, ước tính mỗi cặp cháy liên tục ngày đêm phải mất hơn 70 năm và hai cây đèn cầy nhỏ mỗi cây nặng 100 kg, Cặp đèn cầy nhỏ 100kg này bắt đầu được thắp lên vào ngày 18 tháng 07 năm 1970, đó là ngày ông Ngô Kim Tòng viên tịch.

Đến nay đã 47 năm nhưng vẫn còn khoảng 50cm, dự kiến sẽ đốt thêm được khoảng 4-5 năm nữa mới hết. Nét độc đáo của những chiếc đèn cầy này là khi đúc, ông Ngô Kim Tòng đã nghiên cứu và đúc thành công đến mức dù đốt cháy liên tục nhưng sáp không bao giờ bị chảy ra ngoài mà luôn dồn vào bên trong. Ngoài ra, trong chùa còn lưu giữ 3 cây nhang (hương) mỗi cây cao 1,5m, nặng 50kg, nếu thắp lên chắc vài năm mới tàn.

Với những nét độc đáo đó, ngày 10/12/2010 UBND tỉnh Sóc Trăng đã công nhận Bửu Sơn tự là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh. Đặc biệt, ngày 18/7/2013, tháp Đa Bảo và Bảo Tòa Liên Hoa của chùa đã được tổ chức kỷ lục Việt Nam  công nhận là Kỷ lục Việt Nam. 

TIN LIÊN QUAN
Cùng chuyên mục

Đọc thêm