Dấu mốc ra đời danh xưng “tỉnh Hải Dương”

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) - Trên dải đất hình chữ S, Hải Dương là vùng đất địa linh nhân kiệt, có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của dân tộc. Đó là miền đất gợi nhớ về quá khứ hào hùng từ buổi bình minh dựng nước đến quá trình đấu tranh giữ nước...

Một góc thành phố Hải Dương địa linh nhân kiệt, sơn thủy hữu tình.

Một góc thành phố Hải Dương địa linh nhân kiệt, sơn thủy hữu tình.

Ngược dòng lịch sử, vùng đất Hải Dương hôm nay đã có nhiều lần thay đổi tên gọi, địa giới hành chính. Qua khối Mộc bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu thế giới hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, thành phố Đà Lạt, bạn đọc sẽ hiểu hơn về lịch sử hình thành cũng như quá trình phát triển của vùng đất Hải Dương.

Dấu ấn vùng đất cổ

Lần theo nguồn sử liệu, mảnh đất Hải Dương vốn có lịch sử hình thành từ rất lâu đời. Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 21, mặt khắc 24, 25 ghi chép về vùng đất Hải Dương từ thời Hùng Vương dựng nước đến triều vua Trần Thuận Tông như sau: “Đời Hùng Vương xưa, Hải Dương là bộ Dương Tuyền; nhà Tần, thuộc quận Nam Hải; nhà Hán, thuộc quận Giao Chỉ; nhà Ngô, thuộc Giao Châu; nhà Đường đặt Hải Môn trấn, lại gọi là Hồng Châu. Nhà Đinh chia làm đạo; nhà [Tiền] Lê và nhà Lý cũng theo như nhà Đinh; nhà Trần đổi làm các lộ: Hồng Châu thượng, Hồng Châu hạ và Nam Sách thượng, Nam Sách hạ; năm Quang Thái thứ 10 đổi làm Hải Đông trấn…”

Dấu mốc ra đời danh xưng “tỉnh Hải Dương” ảnh 1

Trung tâm Văn hóa Xứ Đông (tỉnh Hải Dương) rực rỡ cờ hoa chào mừng Đại hội Đảng.

Sau chiến thắng chống quân Minh xâm lược, năm Mậu Thân (1428), vua Lê Thái Tổ cho chia cả nước thành 5 đạo: Tây đạo, Đông đạo, Bắc đạo, Nam đạo và Hải Tây đạo, trấn Hải Dương lúc này thuộc Đông đạo.

Đến triều vua Lê Thánh Tông, vào năm Bính Tuất (1466), vua cho chia đặt các đơn vị hành chính trong nước làm 12 đạo thừa tuyên, trong đó có Đạo thừa tuyên Nam Sách.

Ba năm sau (1469), vua tiếp tục cho định bản đồ trong cả nước, bao gồm 12 thừa tuyên, và Đạo thừa tuyên Nam Sách được đổi thành Thừa tuyên Hải Dương. Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 21, mặt khắc 15, 16, có ghi rằng: “Nhà vua định bản đồ 12 thừa tuyên… Nam Sách nay đổi làm Hải Dương, quản lĩnh 4 phủ, 18 huyện”.

Dấu mốc ra đời danh xưng “tỉnh Hải Dương” ảnh 2Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 76, ghi chép về việc vua Minh Mạng cho đặt tỉnh Hải Dương vào năm Tân Mão (1821).

Lúc này Thừa tuyên Hải Dương bao gồm 4 phủ và 18 huyện. Cụ thể là: phủ Thượng Hồng quản lĩnh 3 huyện: Đường Hào, Đường An và Cẩm Giàng; phủ Hạ Hồng quản lĩnh 4 huyện: Gia Phúc, Tứ Kỳ, Thanh Miện và Vĩnh Lại; phủ Nam Sách quản lĩnh 4 huyện: Thanh Hà, Thanh Lâm, Tiên Ninh và Chí Linh; phủ Kinh Môn quản lĩnh 7 huyện: Giáp Sơn, Đông Triều, An Lão, Nghi Dương, Kim Thành, Thủy Đường và An Dương.

Danh xưng Hải Dương chính thức xuất hiện từ đây. Về ý nghĩa của hai chữ Hải Dương. Theo nghĩa chữ Hán: Hải (海) là biển, Dương (陽) là ánh sáng, ánh mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là "ánh mặt trời biển Đông" hay "ánh sáng từ miền duyên hải (phía đông) chiếu về".

Đến năm Canh Tuất (1490), vua Lê Thánh Tông cho đổi Thừa tuyên Hải Dương thành xứ Hải Dương, khoảng giữa năm Hồng Thuận (1509 - 1516), lại đổi làm trấn.

Dấu mốc ra đời danh xưng “tỉnh Hải Dương” ảnh 3

Mộc bản sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 36, mặt khắc 31 ghi chép về việc vua Minh Mạng cho đặt phủ Kiến Thụy vào năm 1837 và huyện Vĩnh Bảo năm 1838 (nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV).

Dưới triều Mạc, vào năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung cho đặt Hải Dương làm Dương Kinh. Trích phủ Thuận An ở kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình ở Sơn Nam cho lệ thuộc vào Dương Kinh. Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 17 cũng có ghi về sự kiện này rằng: “Nhà Mạc đặt Nghi Dương làm Dương Kinh, trích lấy phủ Thuận An thuộc trấn Kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình thuộc trấn Sơn Nam cho lệ vào Dương Kinh”.

Đến nhà Hậu Lê, vua Lê Thế Tông lại cho đổi làm trấn Hải Dương. Năm Tân Dậu (1741), vua Lê Hiển Tông tiếp tục chia Hải Dương làm 4 đạo. Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 39, mặt khắc 12 ghi rằng: “Đặt chức Tuần thủ ở bốn đạo thuộc Hải Dương. Vì Hải Dương đã được bình định, nên chia làm bốn đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, An Lão, và Đông Triều, mỗi đạo đặt một chức tuần thủ để chiếu theo địa phận vỗ về dân chúng”.

Nhìn lại những dấu mốc lịch sử và phát triển của tỉnh Hải Dương mới thấy được bề dày lịch sử của một vùng đất được biết đến với tên gọi là “tứ trấn”. Dưới thời phong kiến, cùng với Sơn Nam, Kinh Bắc, và Sơn Tây, Hải Dương được xem là tứ trấn của Kinh thành Thăng Long, có nhiệm vụ che chắn, bảo vệ kinh thành ngay từ vòng ngoài khi kinh thành có biến.

Lịch sử gần 200 năm

Đến triều Nguyễn, Hải Dương là một vùng đất rộng lớn và giữ vị trí chiến lược quan trọng trong sự phát triển chung của đất nước. Sau khi yên định bờ cõi, thống nhất giang sơn, năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long đưa phủ Kinh Môn về lại trấn Hải Dương. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 18, mặt khắc 12 có ghi về việc này như sau: “Lại cho phủ Kinh Môn theo về Hải Dương. Kinh Môn trước thuộc Hải Dương, giặc Tây Sơn cho lệ vào Yên Quảng, đến nay trở về”.

Như vậy, dưới thời vị vua đầu tiên của triều Nguyễn, tên gọi trấn Hải Dương vẫn được tiếp tục sử dụng. Lúc này, trấn Hải Dương bao gồm 1 phủ, 1 huyện và 5 châu. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 17, mặt khắc 19 ghi rằng: “Giặc Tây Sơn dẹp yên hết, lấy hết đất An Nam, tất cả 14 trấn, 47 phủ, 187 huyện, 40 châu. Trấn Hải Dương 4 phủ là Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn, 18 huyện là Đường An, Đường Hào, Cẩm Giàng, Thanh Miện, Gia Lộc, Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Thanh Lâm, Thanh Hà, Tiên Minh, Chí Linh, Kim Thành, Giáp Sơn, Đông Triều, Thủy Đường, An Lão, An Dương, Nghi Dương”.

Dấu mốc ra đời danh xưng “tỉnh Hải Dương” ảnh 4

Khu đô thị sinh thái ven sông Thái Bình (EcoRivers) - một dấu ấn trong xây dựng đô thị Hải Dương. Ảnh: Thành Chung.

Dưới triều vua Minh Mạng, vào năm Nhâm Ngọ (1822), vua cho đổi phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương làm phủ Bình Giang, phủ Hạ Hồng làm phủ Ninh Giang. Đến năm Tân Mão (1831), để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, vị vua thứ 2 của triều Nguyễn đã cho thực hiện một cuộc cải cách hành chính với quy mô lớn là cho đổi các dinh, trấn thành tỉnh.

Cuộc cải cách này được chia thành hai đợt. Đợt đầu tiên được thực hiện vào năm Tân Mão (1831), vua Minh Mạng cho chia các trấn từ Quảng Trị trở ra Bắc, thành 18 tỉnh trong đó có tỉnh Hải Dương. Đợt 2 thực hiện vào năm Nhâm Thìn (1832), vua Minh Mạng chia các trấn, doanh còn lại từ Quảng Nam trở vào Nam.

Như vậy, theo Mộc bản triều Nguyễn thì vào năm Tân Mão (1831), là thời gian xuất hiện danh xưng “tỉnh Hải Dương”. Đây được xem là dấu mốc quan trọng, đánh dấu chặng đường phát triển không ngừng của Hải Dương trong lịch sử. Năm 1831 được xem là thời điểm mà Hải Dương có bộ máy chính quyền hoàn chỉnh của một đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương.

Trải qua thăng trầm lịch sử với nhiều lần tách nhập khác nữa. Vào ngày 6 tháng 11 năm 1996, tỉnh Hải Dương được tái lập từ tỉnh Hải Hưng. Khi tách ra, tỉnh Hải Dương có 9 đơn vị hành chính gồm thị xã Hải Dương và 8 huyện.

Có thể nói, trong suốt 190 năm qua kể từ năm Tân Mão (1831) cho đến nay, tên gọi “tỉnh Hải Dương” vẫn luôn được sử dụng ổn định và hiện hữu ngày càng rạng rỡ trên bản đồ Tổ quốc Việt Nam.

Cùng chuyên mục

Đọc thêm